Understanding International Leather Shoe Manufacturing, Papers of International Business

An overview of international leather shoe manufacturing, including definitions, characteristics, benefits, and challenges. It covers various forms of international shoe manufacturing, such as cost-plus contracts, make-or-buy decisions, and the role of Vietnam in the global shoe industry. The document also discusses the importance of research, design, and logistics in the shoe manufacturing process.

Typology: Papers

2020/2021

Uploaded on 11/18/2021

hoang-thu-ha
hoang-thu-ha 🇻🇳

4 documents

1 / 22

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
TRƯNG ĐI HC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH T VÀ KINH DOANH QUC T
----------
BÀI THO LUN
Qun tr tác nghip thương mi quốc tế
Đề tài
Phân tích phương thức gia công quốc tế. Nhận xét hoạt
động gia công quốc tế v mặt hàng da giày Vit Nam
Giáo viên hướng dẫn : Doãn Nguyên Minh
lớp học phần : H2101ITOM0511
Nhóm : 1
Hà Nội 2021
pf3
pf4
pf5
pf8
pf9
pfa
pfd
pfe
pff
pf12
pf13
pf14
pf15
pf16

Partial preview of the text

Download Understanding International Leather Shoe Manufacturing and more Papers International Business in PDF only on Docsity!

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN

Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế

Đề tài

Phân tích phương thức gia công quốc tế. Nhận xét hoạt

động gia công quốc tế về mặt hàng da giày ở Việt Nam

Giáo viên hướng dẫn : Doãn Nguyên Minh

Mã lớp học phần : H2101ITOM

Nhóm : 1

Hà Nội – 2021

MỤC LỤC

  • LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................
  • I. LÝ THUYẾT VỀ GIA CÔNG QUỐC TẾ..................................................................
      1. Khái niệm và đặc điểm của gia công quốc tế...........................................................
      1. Vai trò của gia công quốc tế.....................................................................................
      1. Các loại hình gia công quốc tế.................................................................................
      1. Ưu điểm và nhược điểm của gia công quốc tế..........................................................
      1. Những vấn đề cần chú ý khi áp dụng phương thức gia công quốc tế.......................
  • GIAI ĐOẠN TỪ 2017 – 2021........................................................................................... II. HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG QUỐC TẾ VỀ MẶT HÀNG DA GIÀY Ở VIỆT NAM
      1. Tiềm năng của hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày:.................................
      1. Thực trạng hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày........................................
      1. Cơ hội đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày.................................
      1. Thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày..........................
      1. Giải pháp đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày............................
  • KẾT LUẬN......................................................................................................................
  • NGUỒN THAM KHẢO..................................................................................................

I. LÝ THUYẾT VỀ GIA CÔNG QUỐC TẾ

1. Khái niệm và đặc điểm của gia công quốc tế 1.1. Khái niệm Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao. Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên đặt gia công hoặc bên nhận gia công là thương nhân nước ngoài 1.2. Đặc điểm Gia công quốc tế là một phương thức ủy thác gia công, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Trong quá trình gia công, người nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền chi phí gia công là thù lao lao động. Do đó, có thể nói gia công quốc tế là một hình thức mậu dịch lao động, một hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ qua hàng hóa. Gia công quốc tế là một phương thức buôn bán gia công "Hai đầu ở ngoài", nghĩa là thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó. Song, ở đây cần lưu ý, nghiệp vụ gia công quốc tế khác với nghiệp vụ nhập khẩu nguyên liệu để gia công và xuất khẩu thành phẩm (mua đứt bán đoạn). Tuy nó cùng thuộc về phương thức buôn bán gia công "Hai đầu ở ngoài" nhưng nó có điểm khác biệt rõ rệt với gia công quốc tế ở chỗ: Thứ nhất, trong nhập khẩu nguyên liệu gia công và xuất khẩu thành phẩm thì nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm là hai vụ giao dịch khác nhau, đều có xảy ra chuyển dịch quyền sở hữu, người cung ứng nguyên liệu và người mua thành phẩm không có liên hệ chắc chắn nào. Trong nghiệp vụ gia công quốc tế, nhập nguyên liệu vào và xuất thành phẩm đi không có chuyển dịch quyền sở hữu, hoặc nếu có chuyển dịch quyền sở hữu trong nhập nguyên liệu nhưng chúng đều thuộc một cuộc giao dịch, các việc có

liên quan đều được quy định trong cùng một hợp đồng. Vì nghiệp vụ ga công quốc tế thuộc về ủy thác gia công, do đó, người cung ứng nguyên liệu lại chính là người tiếp nhận thành phẩm. Thứ hai, trong nghiệp vụ nhập khẩu nguyên liệu gia công và xuất khẩu thành phẩm, nhà máy trong nước mua từ nước ngoài nguyên liệu, gia công thành thành phẩm, làm tăng giá trị, sau đó bán ra thị trường nước ngoài, kiếm giá trị chênh lệch từ nguyên liệu đến thành phẩm, nhà máy trong nước phải chịu những rủi ro khi tiêu thụ ở thị trường. Trong nghiệp vụ gia công quốc tế, vì thành phẩm giao cho hãng nước ngoài tự tiêu thụ, nhà máy trong nước không phải chịu rủi ro, nhưng phần nhận được cũng chỉ là thù lao sức lao động, còn giá trị tăng thêm lớn như thế nào, thì không cần biết, do đó, lợi nhuận thu được của nghiệp vụ GCQT thường thấp hơn nhiều so với NK nguyên liệu gia công. Nên, phấn đấu để tăng dần tỷ lệ "mua đứt bán đoạn" lên thay thế gia công thuần túy đang là mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp đang thực hiện phương thức GCQT tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

2. Vai trò của gia công quốc tế 2.1. Đối với bên đặt gia công - Hạ thấp giá thành sản phẩm, do đó có thể tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của sản phẩm.

  • Có thể điều chỉnh cơ cấu ngành nghề ở nước sở tại. Đây chủ yếu là chỉ một số nước công nghiệp phát triển, có thể thông qua phương thức gia công quốc tế, chuyển một số loại hình sản xuất dùng nhiều lao động sang các nước đang phát triển. 2.2. Tác dụng đối với bên nhận gia công
  • Khắc phục được mâu thuẫn giữa thừa sức sản xuất mà thiếu nguyên liệu của nước mình, tăng thu nhập ngoại tệ cho nước mình.
  • Phát triển nguồn lao động, tăng thêm cơ hội tạo việc làm và làm kinh tế phát triển.
  • Theo giá thị trường (giá khoán), trong đó người ta xác định một giá định mức (Target price) cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu đi nữa, hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định mức đó. Phân theo số bên tham gia quan hệ gia công, có hai loại gia công sau đây:
  • Gia công hai bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công.
  • Gia công nhiều bên, còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một. 4. Ưu điểm và nhược điểm của gia công quốc tế 4.1. Ưu điểm Gia công quốc tế đóng vai trò rất lớn trong việc luân chuyển hàng hóa vô hình.
  • Thúc đẩy việc chuyên môn hóa lao động trên phạm vi toàn cầu, giúp cho việc phân công lao động quốc tế phát triển mạnh mẽ
  • Có tác dụng lớn trong việc giúp các doanh nghiệp nhận gia công tiếp thu nhiều kinh nghiệm quốc tế và người lao động được tiếp cận với nhiều trang thiết bị và công nghệ tiên tiến hơn.
  • Đây là hình thức được áp dụng tất yếu trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển lực lượng lao động bản địa thành lực lượng lao động quốc tế hùng hậu. 4.2. Nhược điểm Bên nhận gia công thường là bên yếu kém về nhiều mặt như vốn, công nghệ, kĩ năng... nên nhận được thù lao rẻ mạt. Do đó, khó có loại hình gia công trường tồn cho các bên tham gia. Mâu thuẫn về văn hóa trong việc sử dụng lao động quốc tế. Thông thường, bên đặt gia công luôn luôn muốn khai thác triệt để lao động nên áp dụng nhiều phương pháp quản

lý công nghiệp mạnh hay giảm thiểu các chế độ đãi ngộ trong khi lao động ở bên nhận gia công chưa quen với cường độ và phong cách làm việc mới. Đây là nguyên nhân đổ vỡ của không ít các quan hệ kinh tế bạn hàng.

5. Những vấn đề cần chú ý khi áp dụng phương thức gia công quốc tế Gia công quốc tế là một phương thức thương mại quốc tế mà các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa hay áp dụng, nhằm tận dụng những lợi ích do phương thức giao dịch này mang lại. Song, khi áp dụng nó cần lưu ý các vấn đề sau: Thực tiễn, nghiệp vụ gia công quốc tế là một biện pháp tăng thu nhập ngoại tệ, nhưng so với buôn bán xuất khẩu, nó vẫn xếp vào vị trí thứ yếu. Do đó, khi triển khai nghiệp vụ này, phải có quan điểm toàn cục, chú ý xử lý tốt mối quan hệ với xuất khẩu thông thường. Những nghiệp vụ có tính chất tranh khách hàng, tranh thị trường với buôn bán xuất khẩu cần tránh xảy ra. Xác định hợp lý chi phí lao động: Cần tăng cường hạch toán kinh tế, chú ý tới hiệu quả kinh tế. Với nước có giá thành gia công thấp hơn nước ngoài, khi quyết định mức chi phí lao động, không những phải xem xét xem có hợp lý hay không, đồng thời phải tham khảo mức chi phí lao động của thị trường nước ngoài để hạch toán, cân nhắc hiệu quả, để cho tiêu chuẩn chi phí của mình vừa có sức cạnh tranh, lại thu về nhiều ngoại tệ cho nước mình, tránh sự cạnh tranh với các đơn vị gia công khác trong nước, tự ý hạ thấp mức chi phí lao động. Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện nước mình sản xuất: ở những khu vực hoặc đơn vị có điều kiện, cần cố gắng sử dụng nhiều nguyên vật liệu hoặc linh kiện do nước mình sản xuất, tranh thủ nâng cao tỷ trọng ở mặt này, dần dần quá độ sang tự kinh doanh xuất khẩu. Nâng cao năng lực của doanh nghiệp: Nỗ lực nâng cao năng lực của doanh nghiệp về mọi mặt. Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng. Những đơn vị có điều kiện cần có kế hoạch dần dần nâng cao trình độ kỹ

Nước ta có 4 phương thức làm hàng da giày: Một là gia công thuần túy (các nhà máy chỉ nhận vật tư và nguyên liệu từ đối tác nước ngoài, làm ra sản phẩm rồi giao lại cho phía đối tác nước ngoài và nhận tiền công); Hai là mua nguyên liệu bán thành phẩm (nhà máy phải tự mua vật tư và thanh toán tiền vật tư); Ba là sản xuất theo hàng FOB - hoặc là xuất hàng FOB (sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài và tiêu thụ ở các thị trường xuất khẩu); Cuối cùng là sản phẩm mang thương hiệu của chính doanh nghiệp đó (nhưng phương thức này được thực hiện rất ít vì thương hiệu của ta chưa đủ mạnh). Theo các doanh nghiệp, muốn có thêm giá trị gia tăng, doanh nghiệp da giày phải chuyển đổi phương thức kinh doanh từ gia công sang FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm), ODM (tự chủ từ khâu thiết kế, sản xuất đến bán hàng) hay OBM (sở hữu nhãn hiệu riêng). Thế nhưng, việc chuyển đổi này không hề dễ dàng. ODM hay OBM hiện vượt xa năng lực của đa số doanh nghiệp Việt Nam, vốn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, yếu về mặt quản trị lẫn vốn đầu tư công nghệ, máy móc. FOB cũng không đơn giản. Ngoài việc Việt Nam chưa hình thành chuỗi liên kết ngành và phát triển công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp trong nước có thể chủ động nguồn cung nguyên phụ liệu, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu; thì hầu hết các khách hàng ngành da giày là tập đoàn toàn cầu và có liên kết từ khâu thiết kế, nguyên phụ liệu đến xuất khẩu nên doanh nghiệp Việt sẽ khó mà chen chân. Hiện nay sản xuất của ngành Da giày vẫn chủ yếu theo hình thức gia công xuất khẩu (có tới 60 - 70% doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp da giày sản xuất theo hình thức gia công) với nguồn cung ứng nguyên phụ liệu đầu vào theo chỉ định của khách hàng nhập khẩu, do đó, giá trị gia tăng của sản phẩm thấp và phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp từ nước ngoài. Số liệu Tổng điều tra kinh tế 2017 đã cho thấy: Năm 2016, hoạt động gia công giày dép thu về 2,7 tỷ USD, chỉ chiếm 32% tổng phí gia công của Ngành, như vậy, hàng năm, Việt Nam tiêu tốn hàng tỷ USD để nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất da giày. Tỷ lệ nội địa hóa ngành Da giày của Việt Nam mới ở mức 50%, chưa đủ để đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu của các FTA (hầu hết là 55%) đã ký kết và đang trong quá trình đàm phán. Đối với sản phẩm giày dép da, tỷ lệ nội địa hóa thậm chí còn thấp hơn do

phụ thuộc vào nguồn da thuộc nhập khẩu. Trong khi đó, theo kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017 các FTA đã có tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể: 81,1% số doanh nghiệp được đánh giá có ảnh hưởng bởi FTA với cộng đồng kinh tế ASEAN, con số này với FTA Việt Nam - Nhật Bản là 69,1%, FTA Việt Nam - Hàn Quốc là 62,4%; FTA Việt Nam - Liên minh châu là 61%, FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu 57,6% và các hiệp định khác là 5,6%.

3. Cơ hội đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày Cơ hội lớn thứ nhất là từ các FTA thế hệ mới mang lại, trong đó điểm sáng có thể thấy rõ trước mắt là Hiệp định EVFTA. Các doanh nghiệp ngành da giày cũng đã và đang chủ động nắm bắt và khai thác những lợi thế từ các Hiệp định Thương mại tự do mang lại nhằm tạo sự đột phá trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu. Theo đó, Hiệp định CPTPP có hiệu lực vào ngày 14/1/2019, da giày là một trong những ngành đầu tiên được hưởng lợi khi thuế xuất khẩu vào các nước đối tác thành viên hầu hết được cắt giảm lên đến 100% hoặc cắt giảm dần và xóa hẳn theo các năm. Riêng với 3 nước Canada, Mexico và Peru là những nước lần đầu tiên có cam kết chung với Việt Nam, tới 78% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Canada được hưởng thuế suất 0% hoặc cắt giảm 75% so với mức thuế suất trước đó. Điều đó được thể hiện một phần qua tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của ngành Da giày trong thời gian qua. Cụ thể: Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam năm 2017 tăng 12,6% so với năm 2016; năm 2018 tăng trên 10% so với năm

  1. Năm 2018, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành Da giày Việt Nam với khoảng 36,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, đứng thứ 2 là Liên minh châu (EU) với 28,4%, kế đó là các thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Các FTA cũng tác động tích cực đến việc cải cách cấu trúc ngành da giày và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Các doanh nghiệp FDI đang có sự quan tâm và đầu tư mạnh vào ngành Da giày Việt Nam, bằng chứng là tỷ trọng các doanh nghiệp FDI đầu tư vào ngành này tăng dần trong các năm gần đây.

phần đầu tư; bao gồm các thể chế pháp lý trong các lĩnh vực môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… bởi vậy, ngành Da giày cũng sẽ được bảo hộ bởi các thể chế pháp lý này. Các Hiệp định thương mại không chỉ mở ra cơ hội đầu tư và thị trường xuất khẩu cho ngành công nghiệp sản xuất và xuất khẩu da giày Việt Nam mà còn góp phần đem lại hàng triệu việc làm cho đất nước. Như vậy, về mặt xã hội, ngành da giày đã góp phần tạo an sinh xã hội, giảm nghèo, tăng thu nhập… Thứ hai, việc chuyển dịch các nhà máy sản xuất giày da cũng như các đối tác đang dần dịch chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc về Việt Nam sẽ giúp Việt Nam trở thành công xưởng giày dép của thế giới trong tương lai gần. Doanh nghiệp ngành da giày FDI tiếp tục đổ về Việt Nam dù khối này đang chiếm hơn 80% thị phần của ngành trên tổng số 600 nhà máy đang có mặt tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Mỹ cho biết, họ đang muốn chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thay vì tập trung 75% đơn hàng tại quốc gia này theo kế hoạch đến năm 2020 bởi Trung Quốc đang lạm phát cao, lương tối thiểu tăng mạnh, cũng như áp lực phải chi trả cho người lao động nghỉ hưu đang có chiều hướng ngày càng tăng cao. Riêng nửa đầu năm 2017, các thương hiệu như Nike, Adidas, Puma đã chuyển lượng lớn đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh sang nhà máy của Việt Nam. Không chỉ các thương hiệu lớn này, Tập đoàn Target Sourcing Services, một trong 10 nhà phân phối lớn nhất thế giới, và Tập đoàn Dansu cũng đã khảo sát và có ý định mở rộng, đầu tư vào Việt Nam. Thứ ba, xu hướng dịch chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu do đại dịch COVID- 19 gây ra đã mở ra nhiều cơ hội lớn để ngành gia công da giày Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới Là một trong những ngành chịu nhiều tác động do dịch bệnh Covid-19, kim ngạch xuất khẩu da giày - túi xách năm 2020 của Việt Nam sụt giảm 9,6% so với năm 2019, đạt mức 16,6 tỷ USD, trở về mốc năm 2018. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn chung, ngành da giày vẫn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Với việc kiểm soát tốt dịch bệnh,

Ngành đã từng bước đổi mới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, duy trì lực lượng sản xuất, tận dụng lợi thế từ việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA)... Khi xảy ra đại dịch COVID-19, nhiều thương hiệu lớn của ngành da giày, túi xách thế giới nhận thấy đã đến lúc cần phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc để hạn chế tối đa các thiệt hại do dịch bệnh và các khủng hoảng khác tương tự mang lại. Do vậy, Việt Nam - một trong 10 nước xuất khẩu da giày lớn nhất thế giới có cơ hội lớn để tiếp nhận các chuỗi cung ứng này cũng như phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Da - giày - túi xách Việt Nam (Lefaso) chia sẻ: “Các nhãn hàng lớn sẽ tính toán giảm vị trí thống lĩnh thị phần thế giới của Trung Quốc từ mức 60-70% xuống còn 45-50%; nâng thị phần của các nước châu Á gồm Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Myanmar, Bangladesh và Campuchia lên cân bằng với Trung Quốc. Các nước ở châu Phi và châu Mỹ sẽ chiếm thị phần còn lại, khoảng trên 5%”

4. Thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày Hoạt động gia công quốc tế về mặt hàng da giày của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn là làm thuê cho các đối tác nước ngoài, bởi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ hưởng phần phí (tiền công) từ việc gia công lắp ráp, phần lớn nguyên liệu đầu vào do đối tác nước ngoài cung cấp. Một trong những thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày ở Việt Nam là giá trị gia tăng đem lại từ hoạt động này không cao, do nguyên liệu phục vụ cho gia công, lắp ráp phần lớn do phía nước ngoài cung cấp và sở hữu, do đó doanh nghiệp Việt Nam khó có thể chủ động trong quá trình sản xuất và chưa thực sự làm chủ được công nghệ. Phương thức kinh doanh gia công đã khiến cho các doanh nghiệp của ta phụ thuộc nhiều vào khách hàng, nên cũng không chủ động được nguồn hàng, thị trường. Doanh nghiệp thuần túy làm theo chỉ định của khách hàng. Do vậy khách hàng luôn chủ động còn doanh nghiệp bị động, đến mức chỉ khi nhận mẫu mới đi tìm kiếm nguồn nguyên liệu; thậm chí để kịp đơn hàng, doanh nghiệp lại đến ngay nguồn cung nguyên liệu do

Ngoài ra không thể không kể đến thách thức lớn đến từ dịch bệnh Covid-19 vẫn đang hoành hành trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hoạt động sản xuất bị gián đoạn do nguồn cung về nguyên liệu bị đứt đoạn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Trong khi nguồn vật tư chưa được khắc phục, các khách hàng lớn ở châu Mỹ liên tiếp hủy, hoãn đơn hàng khiến các doanh nghiệp càng thêm điêu đứng. Hiện đơn hàng xuất khẩu đã bị giảm hơn 50% và sẽ tăng lên trong thời gian tới. Một khi dịch bệnh chưa được kiểm soát, chắc chắn hoạt động doanh nghiệp phải co lại, thậm chí phải dừng sản xuất do thiếu vốn, không có đơn hàng để tiếp tục duy trì hoạt động doanh nghiệp.

5. Giải pháp đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày 5.1. Đối với doanh nghiệp Thực tế đòi hỏi và cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường chủ động khắc phục tình trạng thiếu vốn, công nghệ, nhân sự cao cấp, năng lực quản trị và năng suất lao động thấp, coi trọng hoạt động bộ phận nghiên cứu, phân tích về môi trường, tiêu chuẩn hóa chất lượng và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh hoạt động liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước, không ngừng cải thiện năng lực cạnh tranh cho hoạt động gia công quốc tế về mặt hàng da giày Việt Nam. Cụ thể như sau:

  • Nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng công nghệ, hiện đại hóa máy móc, thiết bị, nâng cao tay nghề cho người lao động với chế độ đãi ngộ thỏa đáng, đào tạo đội ngũ quản lý kỹ thuật nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu khách hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh. Đồng thời cơ cấu lại sản xuất để giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực vượt qua các hàng rào kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu khách hàng. Tìm kiếm các nguồn có thể cung cấp nguyên phụ liệu ổn định có uy tín: Việc nghiên cứu lựa chọn nguồn hàng tốt góp

phần đáp ứng kịp thời chính xác nhu cầu thị trường, thực hiện đúng thời hạn hợp đồng với chất lượng tốt. Để giải quyết các thách thức trong quan hệ với các nhãn hàng, các chuyên gia cho rằng, các doanh nghiệp cần có chiến lược cần linh hoạt hơn, đa dạng phương thức để đáp ứng các đơn hàng khác nhau, không chỉ dừng lại ở gia công mà cần mở rộng sang OBM (sở hữu nhãn hiệu riêng), ODM (tự chủ từ khâu thiết kế, sản xuất đến bán hàng), nâng cao khả năng thiết kế. Đa dạng hoá các phương thức xuất khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất không bị động trước các yêu cầu của thị trường. Ngoài ra, cần đưa thêm các khâu trong chuỗi cung ứng vào sản xuất tại Việt Nam như sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao khả năng thiết kế, tham gia một phần vào logictics…Nâng tầm doanh nghiệp, chuyển đổi phương thức kinh doanh để vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu là cách để doanh nghiệp dệt may, da giày tồn tại và phát triển bền vững.

  • Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý có bản lĩnh trong kinh doanh quốc tế Doanh nghiệp cần phải tổ chức đào tạo những người lao động chưa theo kịp với dây chuyền sản xuất, tổ chức tuyển chọn công nhân có đủ tay nghề để trực tiếp sản xuất nhanh cũng như sa thải những người lao động có tay nghề quá thấp. Và những cán bộ nhân viên quản lý phải được xây dựng đủ mạnh, có trình độ nghiệp cao, tinh thần trách nhiệm cao có thể đối phó lại với những tình huống bất ngờ xảy ra trong kinh doanh, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh, tiếp thu được công nghệ sản xuất mới, hiện đại từ phía nước ngoài, có khả năng phân tích đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh, vạch ra các chủ trương, chương trình hành động thích hợp cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng cần phải có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm làm cho người lao động gắn bó với công ty hơn, tránh tình trạng chảy máu chất xám.
  • Đẩy mạnh hoạt động liên doanh liên kết Liên kết kinh tế kỹ thuật giữa các doanh nghiệp da giày sẽ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi thông tin và hợp tác với nhau trên nhiều phương diện sẽ có hiệu

5.2. Đối với chính phủ

  • Nhà nước cần có các chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy các hoạt động gia công Nước ta là một nước có nền kinh tế có xuất phát điểm rất thấp, các doanh nghiệp thường đi sau trong quá trình hội nhập vì vậy Nhà nước cần phải có những chính sách nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất. Cụ thể là: Về lãi vay ngân hàng: Hiện nay ngành da giày của nước ta các máy móc sản xuất đa phần là các máy móc lạc hậu, một số máy móc vẫn còn mới nhưng trình độ công nghệ không cao do vậy chất lượng sản phẩm không cao. Để đầu tư cho sản xuất thì nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp không thể nào đáp ứng được, do vậy cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước cần phải có sự hỗ trợ về mặt tín dụng như đơn giản các thủ cho vay vốn, giảm lãi vay… Về quản lý và phân bổ hạn ngạch: Trong những năm qua Nhà nước đã có thay đổi rất nhiều trong vấn đề quản lý và phân bổ hạn ngạch. Mặc dù với cách phân bổ hiện nay của Bộ thương mại đã có nhiều tiến bộ nhưng vấn đề phân bổ hạn ngạch vẫn còn có nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết. Thực tế hiện nay số lượng sản phẩm sản xuất để xuất khẩu bao giờ cũng lớn hơn số lượng trong hạn ngạch. Do vậy doanh nghiệp liên tục bị thiếu hạn ngạch và luôn phải lo lắng xin hạn ngạch bổ xung hoặc tìm các doanh nghiệp khác để xuất khẩu uỷ thác. Điều này làm chi phí sản xuất gia công tăng, đồng thời tạo ra nhiều hiện tương tiêu cực trong vấn đề xin hạn ngạch.
  • Cải thiện chính sách thuế. Mặc dù hàng gia công xuất khẩu có thuế suất giá trị gia tăng là 0%, nhưng thuế xuất khẩu vẫn còn, điều này cũng gây khó khăn không ít cho các doanh nghiệp. Vì vậy, Chính phủ cần có giải pháp thuế xuất khẩu hợp lý trên cơ sở trao đổi thảo luận với Hiệp hội ngành Dệt May - Da giày. Thực hiện chính sách thuế tích cực sẽ góp phần giải phóng sức mạnh tiềm năng của ngành Dệt May - Da giày Việt Nam.
  • Cải cách các thủ tục hành chính Hiện nay, các thủ tục hành chính của nhà nước còn rất rườm rà, phức tạp. Điều đó làm cản trở rất lớn tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiện nay, yếu tố cản

trở lớn nhất đối với một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu là việc thông qua hải quan. Thủ tục rất rườm rà nhiều khi làm giảm tiến độ giao hàng. Đơn giản hoá các thủ tục hành chính và chống tham nhũng trong các cơ quan chức năng của Nhà nước như thuế vụ, hải quan, ngân hàng…đổi mới quy chế và cách thức làm việc, bỏ bớt các của trong xét duyệt đầu tư, vay vốn đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với mọi ngành mọi cấp.

  • Thành lập tổ chức xúc tiến thương mại Thị trường tiêu thụ trên thế giới luôn biến động và tương đối phức tạp, nhưng hiện nay các thông tin về thị trường vẫn còn thiếu và độ chính xác chưa cao. Vì vậy, Nhà nước sớm thành lập tổ chức xúc tiến thương mại để trợ giúp các nhà sản xuất trong hoạt động kinh doanh. Chức năng của tổ chức này là cung cấp thông tin và tổ chức xúc tiến các hoạt động thương mại, tiến hành nghiên cứu thị trường nước ngoài. Tổ chức này sẽ thiết lập một ngân hàng dữ liệu về các thị trường nước ngoài. Trong thời gian trước mắt, khi mà chưa thành lập được tổ chức xúc tiến thương mại, Bộ thương mại cần phải thành lập các văn phòng đại diện ở nước ngoài để nghiên cứu theo dõi tình hình thị trường nước ngoài và thường xuyên đứng ra tổ chức và bảo trợ cho các đoàn đi khảo sát thị trường nước ngoài. Kinh nghiệm một số nước cho thấy, ngoài việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển hợp lý ngành da giày, các nước đó đã thực hiện những biện pháp chiếm lĩnh thị trường hữu hiệu đó có thể coi là kinh nghiệm quý báu đối với Việt Nam.