














Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
An overview of international leather shoe manufacturing, including definitions, characteristics, benefits, and challenges. It covers various forms of international shoe manufacturing, such as cost-plus contracts, make-or-buy decisions, and the role of Vietnam in the global shoe industry. The document also discusses the importance of research, design, and logistics in the shoe manufacturing process.
Typology: Papers
1 / 22
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!















1. Khái niệm và đặc điểm của gia công quốc tế 1.1. Khái niệm Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao. Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên đặt gia công hoặc bên nhận gia công là thương nhân nước ngoài 1.2. Đặc điểm Gia công quốc tế là một phương thức ủy thác gia công, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Trong quá trình gia công, người nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền chi phí gia công là thù lao lao động. Do đó, có thể nói gia công quốc tế là một hình thức mậu dịch lao động, một hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ qua hàng hóa. Gia công quốc tế là một phương thức buôn bán gia công "Hai đầu ở ngoài", nghĩa là thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó. Song, ở đây cần lưu ý, nghiệp vụ gia công quốc tế khác với nghiệp vụ nhập khẩu nguyên liệu để gia công và xuất khẩu thành phẩm (mua đứt bán đoạn). Tuy nó cùng thuộc về phương thức buôn bán gia công "Hai đầu ở ngoài" nhưng nó có điểm khác biệt rõ rệt với gia công quốc tế ở chỗ: Thứ nhất, trong nhập khẩu nguyên liệu gia công và xuất khẩu thành phẩm thì nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm là hai vụ giao dịch khác nhau, đều có xảy ra chuyển dịch quyền sở hữu, người cung ứng nguyên liệu và người mua thành phẩm không có liên hệ chắc chắn nào. Trong nghiệp vụ gia công quốc tế, nhập nguyên liệu vào và xuất thành phẩm đi không có chuyển dịch quyền sở hữu, hoặc nếu có chuyển dịch quyền sở hữu trong nhập nguyên liệu nhưng chúng đều thuộc một cuộc giao dịch, các việc có
liên quan đều được quy định trong cùng một hợp đồng. Vì nghiệp vụ ga công quốc tế thuộc về ủy thác gia công, do đó, người cung ứng nguyên liệu lại chính là người tiếp nhận thành phẩm. Thứ hai, trong nghiệp vụ nhập khẩu nguyên liệu gia công và xuất khẩu thành phẩm, nhà máy trong nước mua từ nước ngoài nguyên liệu, gia công thành thành phẩm, làm tăng giá trị, sau đó bán ra thị trường nước ngoài, kiếm giá trị chênh lệch từ nguyên liệu đến thành phẩm, nhà máy trong nước phải chịu những rủi ro khi tiêu thụ ở thị trường. Trong nghiệp vụ gia công quốc tế, vì thành phẩm giao cho hãng nước ngoài tự tiêu thụ, nhà máy trong nước không phải chịu rủi ro, nhưng phần nhận được cũng chỉ là thù lao sức lao động, còn giá trị tăng thêm lớn như thế nào, thì không cần biết, do đó, lợi nhuận thu được của nghiệp vụ GCQT thường thấp hơn nhiều so với NK nguyên liệu gia công. Nên, phấn đấu để tăng dần tỷ lệ "mua đứt bán đoạn" lên thay thế gia công thuần túy đang là mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp đang thực hiện phương thức GCQT tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
2. Vai trò của gia công quốc tế 2.1. Đối với bên đặt gia công - Hạ thấp giá thành sản phẩm, do đó có thể tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của sản phẩm.
lý công nghiệp mạnh hay giảm thiểu các chế độ đãi ngộ trong khi lao động ở bên nhận gia công chưa quen với cường độ và phong cách làm việc mới. Đây là nguyên nhân đổ vỡ của không ít các quan hệ kinh tế bạn hàng.
5. Những vấn đề cần chú ý khi áp dụng phương thức gia công quốc tế Gia công quốc tế là một phương thức thương mại quốc tế mà các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa hay áp dụng, nhằm tận dụng những lợi ích do phương thức giao dịch này mang lại. Song, khi áp dụng nó cần lưu ý các vấn đề sau: Thực tiễn, nghiệp vụ gia công quốc tế là một biện pháp tăng thu nhập ngoại tệ, nhưng so với buôn bán xuất khẩu, nó vẫn xếp vào vị trí thứ yếu. Do đó, khi triển khai nghiệp vụ này, phải có quan điểm toàn cục, chú ý xử lý tốt mối quan hệ với xuất khẩu thông thường. Những nghiệp vụ có tính chất tranh khách hàng, tranh thị trường với buôn bán xuất khẩu cần tránh xảy ra. Xác định hợp lý chi phí lao động: Cần tăng cường hạch toán kinh tế, chú ý tới hiệu quả kinh tế. Với nước có giá thành gia công thấp hơn nước ngoài, khi quyết định mức chi phí lao động, không những phải xem xét xem có hợp lý hay không, đồng thời phải tham khảo mức chi phí lao động của thị trường nước ngoài để hạch toán, cân nhắc hiệu quả, để cho tiêu chuẩn chi phí của mình vừa có sức cạnh tranh, lại thu về nhiều ngoại tệ cho nước mình, tránh sự cạnh tranh với các đơn vị gia công khác trong nước, tự ý hạ thấp mức chi phí lao động. Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện nước mình sản xuất: ở những khu vực hoặc đơn vị có điều kiện, cần cố gắng sử dụng nhiều nguyên vật liệu hoặc linh kiện do nước mình sản xuất, tranh thủ nâng cao tỷ trọng ở mặt này, dần dần quá độ sang tự kinh doanh xuất khẩu. Nâng cao năng lực của doanh nghiệp: Nỗ lực nâng cao năng lực của doanh nghiệp về mọi mặt. Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng. Những đơn vị có điều kiện cần có kế hoạch dần dần nâng cao trình độ kỹ
Nước ta có 4 phương thức làm hàng da giày: Một là gia công thuần túy (các nhà máy chỉ nhận vật tư và nguyên liệu từ đối tác nước ngoài, làm ra sản phẩm rồi giao lại cho phía đối tác nước ngoài và nhận tiền công); Hai là mua nguyên liệu bán thành phẩm (nhà máy phải tự mua vật tư và thanh toán tiền vật tư); Ba là sản xuất theo hàng FOB - hoặc là xuất hàng FOB (sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài và tiêu thụ ở các thị trường xuất khẩu); Cuối cùng là sản phẩm mang thương hiệu của chính doanh nghiệp đó (nhưng phương thức này được thực hiện rất ít vì thương hiệu của ta chưa đủ mạnh). Theo các doanh nghiệp, muốn có thêm giá trị gia tăng, doanh nghiệp da giày phải chuyển đổi phương thức kinh doanh từ gia công sang FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm), ODM (tự chủ từ khâu thiết kế, sản xuất đến bán hàng) hay OBM (sở hữu nhãn hiệu riêng). Thế nhưng, việc chuyển đổi này không hề dễ dàng. ODM hay OBM hiện vượt xa năng lực của đa số doanh nghiệp Việt Nam, vốn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, yếu về mặt quản trị lẫn vốn đầu tư công nghệ, máy móc. FOB cũng không đơn giản. Ngoài việc Việt Nam chưa hình thành chuỗi liên kết ngành và phát triển công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp trong nước có thể chủ động nguồn cung nguyên phụ liệu, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu; thì hầu hết các khách hàng ngành da giày là tập đoàn toàn cầu và có liên kết từ khâu thiết kế, nguyên phụ liệu đến xuất khẩu nên doanh nghiệp Việt sẽ khó mà chen chân. Hiện nay sản xuất của ngành Da giày vẫn chủ yếu theo hình thức gia công xuất khẩu (có tới 60 - 70% doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp da giày sản xuất theo hình thức gia công) với nguồn cung ứng nguyên phụ liệu đầu vào theo chỉ định của khách hàng nhập khẩu, do đó, giá trị gia tăng của sản phẩm thấp và phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp từ nước ngoài. Số liệu Tổng điều tra kinh tế 2017 đã cho thấy: Năm 2016, hoạt động gia công giày dép thu về 2,7 tỷ USD, chỉ chiếm 32% tổng phí gia công của Ngành, như vậy, hàng năm, Việt Nam tiêu tốn hàng tỷ USD để nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất da giày. Tỷ lệ nội địa hóa ngành Da giày của Việt Nam mới ở mức 50%, chưa đủ để đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu của các FTA (hầu hết là 55%) đã ký kết và đang trong quá trình đàm phán. Đối với sản phẩm giày dép da, tỷ lệ nội địa hóa thậm chí còn thấp hơn do
phụ thuộc vào nguồn da thuộc nhập khẩu. Trong khi đó, theo kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017 các FTA đã có tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể: 81,1% số doanh nghiệp được đánh giá có ảnh hưởng bởi FTA với cộng đồng kinh tế ASEAN, con số này với FTA Việt Nam - Nhật Bản là 69,1%, FTA Việt Nam - Hàn Quốc là 62,4%; FTA Việt Nam - Liên minh châu là 61%, FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu 57,6% và các hiệp định khác là 5,6%.
3. Cơ hội đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày Cơ hội lớn thứ nhất là từ các FTA thế hệ mới mang lại, trong đó điểm sáng có thể thấy rõ trước mắt là Hiệp định EVFTA. Các doanh nghiệp ngành da giày cũng đã và đang chủ động nắm bắt và khai thác những lợi thế từ các Hiệp định Thương mại tự do mang lại nhằm tạo sự đột phá trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu. Theo đó, Hiệp định CPTPP có hiệu lực vào ngày 14/1/2019, da giày là một trong những ngành đầu tiên được hưởng lợi khi thuế xuất khẩu vào các nước đối tác thành viên hầu hết được cắt giảm lên đến 100% hoặc cắt giảm dần và xóa hẳn theo các năm. Riêng với 3 nước Canada, Mexico và Peru là những nước lần đầu tiên có cam kết chung với Việt Nam, tới 78% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Canada được hưởng thuế suất 0% hoặc cắt giảm 75% so với mức thuế suất trước đó. Điều đó được thể hiện một phần qua tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của ngành Da giày trong thời gian qua. Cụ thể: Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam năm 2017 tăng 12,6% so với năm 2016; năm 2018 tăng trên 10% so với năm
phần đầu tư; bao gồm các thể chế pháp lý trong các lĩnh vực môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… bởi vậy, ngành Da giày cũng sẽ được bảo hộ bởi các thể chế pháp lý này. Các Hiệp định thương mại không chỉ mở ra cơ hội đầu tư và thị trường xuất khẩu cho ngành công nghiệp sản xuất và xuất khẩu da giày Việt Nam mà còn góp phần đem lại hàng triệu việc làm cho đất nước. Như vậy, về mặt xã hội, ngành da giày đã góp phần tạo an sinh xã hội, giảm nghèo, tăng thu nhập… Thứ hai, việc chuyển dịch các nhà máy sản xuất giày da cũng như các đối tác đang dần dịch chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc về Việt Nam sẽ giúp Việt Nam trở thành công xưởng giày dép của thế giới trong tương lai gần. Doanh nghiệp ngành da giày FDI tiếp tục đổ về Việt Nam dù khối này đang chiếm hơn 80% thị phần của ngành trên tổng số 600 nhà máy đang có mặt tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Mỹ cho biết, họ đang muốn chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thay vì tập trung 75% đơn hàng tại quốc gia này theo kế hoạch đến năm 2020 bởi Trung Quốc đang lạm phát cao, lương tối thiểu tăng mạnh, cũng như áp lực phải chi trả cho người lao động nghỉ hưu đang có chiều hướng ngày càng tăng cao. Riêng nửa đầu năm 2017, các thương hiệu như Nike, Adidas, Puma đã chuyển lượng lớn đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh sang nhà máy của Việt Nam. Không chỉ các thương hiệu lớn này, Tập đoàn Target Sourcing Services, một trong 10 nhà phân phối lớn nhất thế giới, và Tập đoàn Dansu cũng đã khảo sát và có ý định mở rộng, đầu tư vào Việt Nam. Thứ ba, xu hướng dịch chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu do đại dịch COVID- 19 gây ra đã mở ra nhiều cơ hội lớn để ngành gia công da giày Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới Là một trong những ngành chịu nhiều tác động do dịch bệnh Covid-19, kim ngạch xuất khẩu da giày - túi xách năm 2020 của Việt Nam sụt giảm 9,6% so với năm 2019, đạt mức 16,6 tỷ USD, trở về mốc năm 2018. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn chung, ngành da giày vẫn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Với việc kiểm soát tốt dịch bệnh,
Ngành đã từng bước đổi mới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, duy trì lực lượng sản xuất, tận dụng lợi thế từ việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA)... Khi xảy ra đại dịch COVID-19, nhiều thương hiệu lớn của ngành da giày, túi xách thế giới nhận thấy đã đến lúc cần phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc để hạn chế tối đa các thiệt hại do dịch bệnh và các khủng hoảng khác tương tự mang lại. Do vậy, Việt Nam - một trong 10 nước xuất khẩu da giày lớn nhất thế giới có cơ hội lớn để tiếp nhận các chuỗi cung ứng này cũng như phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Da - giày - túi xách Việt Nam (Lefaso) chia sẻ: “Các nhãn hàng lớn sẽ tính toán giảm vị trí thống lĩnh thị phần thế giới của Trung Quốc từ mức 60-70% xuống còn 45-50%; nâng thị phần của các nước châu Á gồm Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Myanmar, Bangladesh và Campuchia lên cân bằng với Trung Quốc. Các nước ở châu Phi và châu Mỹ sẽ chiếm thị phần còn lại, khoảng trên 5%”
4. Thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày Hoạt động gia công quốc tế về mặt hàng da giày của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn là làm thuê cho các đối tác nước ngoài, bởi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ hưởng phần phí (tiền công) từ việc gia công lắp ráp, phần lớn nguyên liệu đầu vào do đối tác nước ngoài cung cấp. Một trong những thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày ở Việt Nam là giá trị gia tăng đem lại từ hoạt động này không cao, do nguyên liệu phục vụ cho gia công, lắp ráp phần lớn do phía nước ngoài cung cấp và sở hữu, do đó doanh nghiệp Việt Nam khó có thể chủ động trong quá trình sản xuất và chưa thực sự làm chủ được công nghệ. Phương thức kinh doanh gia công đã khiến cho các doanh nghiệp của ta phụ thuộc nhiều vào khách hàng, nên cũng không chủ động được nguồn hàng, thị trường. Doanh nghiệp thuần túy làm theo chỉ định của khách hàng. Do vậy khách hàng luôn chủ động còn doanh nghiệp bị động, đến mức chỉ khi nhận mẫu mới đi tìm kiếm nguồn nguyên liệu; thậm chí để kịp đơn hàng, doanh nghiệp lại đến ngay nguồn cung nguyên liệu do
Ngoài ra không thể không kể đến thách thức lớn đến từ dịch bệnh Covid-19 vẫn đang hoành hành trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hoạt động sản xuất bị gián đoạn do nguồn cung về nguyên liệu bị đứt đoạn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Trong khi nguồn vật tư chưa được khắc phục, các khách hàng lớn ở châu Mỹ liên tiếp hủy, hoãn đơn hàng khiến các doanh nghiệp càng thêm điêu đứng. Hiện đơn hàng xuất khẩu đã bị giảm hơn 50% và sẽ tăng lên trong thời gian tới. Một khi dịch bệnh chưa được kiểm soát, chắc chắn hoạt động doanh nghiệp phải co lại, thậm chí phải dừng sản xuất do thiếu vốn, không có đơn hàng để tiếp tục duy trì hoạt động doanh nghiệp.
5. Giải pháp đối với hoạt động gia công quốc tế mặt hàng da giày 5.1. Đối với doanh nghiệp Thực tế đòi hỏi và cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường chủ động khắc phục tình trạng thiếu vốn, công nghệ, nhân sự cao cấp, năng lực quản trị và năng suất lao động thấp, coi trọng hoạt động bộ phận nghiên cứu, phân tích về môi trường, tiêu chuẩn hóa chất lượng và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh hoạt động liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước, không ngừng cải thiện năng lực cạnh tranh cho hoạt động gia công quốc tế về mặt hàng da giày Việt Nam. Cụ thể như sau:
phần đáp ứng kịp thời chính xác nhu cầu thị trường, thực hiện đúng thời hạn hợp đồng với chất lượng tốt. Để giải quyết các thách thức trong quan hệ với các nhãn hàng, các chuyên gia cho rằng, các doanh nghiệp cần có chiến lược cần linh hoạt hơn, đa dạng phương thức để đáp ứng các đơn hàng khác nhau, không chỉ dừng lại ở gia công mà cần mở rộng sang OBM (sở hữu nhãn hiệu riêng), ODM (tự chủ từ khâu thiết kế, sản xuất đến bán hàng), nâng cao khả năng thiết kế. Đa dạng hoá các phương thức xuất khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất không bị động trước các yêu cầu của thị trường. Ngoài ra, cần đưa thêm các khâu trong chuỗi cung ứng vào sản xuất tại Việt Nam như sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao khả năng thiết kế, tham gia một phần vào logictics…Nâng tầm doanh nghiệp, chuyển đổi phương thức kinh doanh để vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu là cách để doanh nghiệp dệt may, da giày tồn tại và phát triển bền vững.
5.2. Đối với chính phủ
trở lớn nhất đối với một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu là việc thông qua hải quan. Thủ tục rất rườm rà nhiều khi làm giảm tiến độ giao hàng. Đơn giản hoá các thủ tục hành chính và chống tham nhũng trong các cơ quan chức năng của Nhà nước như thuế vụ, hải quan, ngân hàng…đổi mới quy chế và cách thức làm việc, bỏ bớt các của trong xét duyệt đầu tư, vay vốn đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với mọi ngành mọi cấp.