





















Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
The concept of marketing channels, focusing on distributors and retailers. It discusses their roles, benefits, and how they contribute to the supply chain. The text also covers various types of intermediaries and their unique strengths, as well as the importance of effective communication and collaboration between all parties involved.
Typology: Exercises
1 / 29
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!






















Lớp học phần : MAR1322- Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Phương Dung Nhóm : 3
STT Họ và tên Mã SV 1 Vương Thị Hồng Nhung ( Nhóm Trưởng ) B20DCKT 2 Hoàng Thị Minh Hiền B20DCKT 3 Lê Thị Thùy B20DCKT 4 Nguyễn Thị Châm B20DCKT 5 Đỗ Thúy Hà B20DCKT 6 Nguyễn Hải Yến B20DCKT 7 Đinh Thị Giang B20DCKT 8 Trần Thị Như Quỳnh B20DCKT 9 Nguyễn Thị Thêu B20DCKT 10 Nguyễn Thị Phương Thảo B20DCKT 11 Nguyễn Thị Hồng Thắm B20DCKT 12 Nguyễn Thị Xuân B20DCKT 13 Lã Thị Thúy Hằng B20DCQT
1.1. Khái niệm kênh phân phối.
cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau thực hiện các công việc liên quan đến việc làm cho hàng hóa, dịch vụ sẵn sàng để người tiêu dùng hoặc khách hàng tổ chức tiêu dùng hay sử dụng chúng.
1.2. Bản chất của kênh phân phối.
viên của kênh hay các trung gian thương mại. Có nhiều loại trung gian thương mại tham gia vào kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau. Dưới đây là một số loại trung gian thương mại chủ yếu:
Nhà bán buôn hoặc nhà phân phối công nghiệp là những trung gian mua hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất để rồibán lại cho nhà bán lẻ hoặc những nhà sử dụng công nghiệp; Nhà bán lẻ là những trung gian mua hàng hóa dịch vụ của nhà sản xuất hoặc nhà bán buôn để rồi bán lại chúng cho người tiêu dùng cuối cùng; Đại lý là nhà trung gian thực hiện việc bán hàng hóa, dịch vụ theo sự ủy thác của nhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán lẻ và hưởng một tỷ lệ hoa hồng. Nhà đại lý về nguyên tắc không tham gia vào sở hữu hàng hóa, nhưng ở Việt Nam một số cơ sở tiêu thụ được gọi là đại lý nhưng họ giống như trung gian bán buôn hoặc bán lẻ. Họ có sở hữu hàng hóa, dịch vụ; Nhà môi giới là loại trung gian marketing chuyên làm nhiệm vụ kết nối giữa người bán và người mua để hưởng hoa hồng, không tham gia trực tiếp vào các thỏa thuận mua và bán: Ví dụ, môi giới chứng khoán, môi giới nhà đất… Mỗi loại trung gian trên sẽ có những ưu thế khác nhau về sở trường, về năng lực kinh doanh riêng của mình. Tùy vào từng loại hàng hóa và dịch vụ mà công ty sẽ cân nhắc sử dụng trung gian nào để tham gia vào việc đảm bảo giá trị cung ứng cho khách hàng ở hạ nguồn và tạo được lợi thế cạnh tranh.
1.3. Tầm quan trọng và chức năng của kênh phân phối.
Vì sao các nhà sản xuất lại có thể chuyển một phần công việc kinh doanh cho các đối tác kênh? Câu trả lời chỉ có thể là:
2.1. Cấu trúc kênh:
2.1.1. Chiều dài của kênh phân phối.
Chiều dài kênh phân phối trước hết được xác định bằng số cấp độ trung gian có mặt trong kênh. Nghĩa là sản phẩm của nhà sản xuất đến được tay khách hàng tiêu dung cuối cùng thì phải qua bao nhiêu khâu trung gian.
Một kênh phân phối được coi là kênh gián tiếp nếu có nhiều cấp độ trung gian tham gia vào kênh.
Kênh trực tiếp là nhà sản xuất trực tiếp sản phẩm cho người tiêu dùng.
Sơ đồ những kênh phân phối điển hình cho hàng hóa tiêu dùng
2.1.1.1. Kênh A (kênh cấp không) là kênh trực tiếp:
Vì người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Hàng hoá chỉ thay đổi quyền sở hữu duy nhất. Kênh này thường áp dụng cho các sản phẩm
tươi sống trong phạm vi hẹp. Có 3 phương thức bán trực tiếp cơ bản là: bán hàng lưu động, bán qua bưu điện và bán qua các cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
a.Ưu điểm:
Đơn giản, đảm bảo mối quan hệ trực tiếp giữa sản xuất và tiêu dùng
Thời gian vận động của hàng hoá ngắn, đảm bảo ưu thế, mức độ kiểm soát cao, thu được lợi nhuận cao.
Hàng hoá có khả năng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của thị trường, phản ứng linh hoạt đối với sự biến động của thị trường.
Người tiêu dùng mua được những hàng hóa đảm bảo chất lượng.
b. Nhược điểm:
+Trình độ chuyên môn hóa thấp nên hiệu quả trong việc tiêu thụ hàng hoá trực tiếp hàng hoá sẽ không cao.
Tốc độ chu chuyển vốn chậm
Các nhà sản xuất phải chịu rủi ro một mình trong kinh doanh.
2.1.1.2. Kênh 1 cấp (Kênh B):
Là loại kênh có thêm người bán lẻ, thông thường sử dụng khi người bán lẻ có quy mô lớn có thể mua khối lượng lớn từ người sản xuất hoặc khi chi phí lưu kho là quá đắt nếu phải sử dụng người bán buôn. Nhà sản xuất bán cho nhà bán lẻ, người bán lẻ bán cho người tiêu dùng cuối cùng, không có sự tham gia của trung gian bán buôn.
- Trường hợp áp dụng:
Sản phẩm có giá trị thấp, không có tính năng đặc biệt
Các loại hàng hóa giá trị đơn vị thấp, chi phí thấp được mua thường xuyên bởi người tiêu dùng như bánh kẹo, thuốc lá, tạp chí…
Các sản phẩm tiêu dùng rộng rãi trên khu vực thị trường, tập trung một số lượng lớn các khách hàng.
Người bán lẻ có quy mô và khả năng kinh doanh lớn đồng thời các yếu tố nguồn lực đủ mạnh để thực hiện các công việc của những người bán buôn.
Những sản phẩm mới được giới thiệu trên thị trường thông qua một trung gian có uy tín và kinh nghiệm.
2.1.2.1. Phân phối rộng rãi
Doanh nghiệp sử dụng nhiều kênh trung gian để tiêu thụ sản phẩm và sử dụng nhiều đại lý bán lẻ, trung gian bán lẻ càng tốt. Kiểu phân phối này thường áp dụng cho những sản phẩm thông dụng liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng. Ví dụ: thuốc lá, bột giặt, dầu gội đầu, kem đánh răng.
2.1.2.2. Phân phối chọn lọc
Doanh nghiệp lựa chọn một số trung gian ở một số nơi nhất định để tiêu thụ sản phẩm, mà không cần phân tán lực lượng ra nhiều điểm bán, nhằm giành được phần thị trường cần thiết với sự kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm chi phí tiêu thụ. Hình thức này thường áp dụng cho loại hàng hoá có giá trị cao, khách hàng thường suy nghĩ tính toán nhiều hơn với quyết định mua.
2.1.2.3. Phân phối độc quyền
Doanh nghiệp sử dụng một số trung gian rất hạn chế ở một khách hàng vực thị trường để tiêu thụ sản phẩm. Trung gian này thường là đại lý độc quyền. Nhà sản xuất yêu cầu đại lý chỉ bán được hàng của mình không được bán hàng của đối thủ cạnh tranh. Kiểu phân phối này có thể giúp nhà sản xuất kiểm soát chặt chẽ hơn trung gian làm đại lý về các mặt hàng giá cả, thanh toán …
Với cách phân phối này góp phần đề cao hình ảnh của sản phẩm và có thể mang lại cho nhà sản xuất nhiều thành công hơn, và thường áp dụng cho nhiều mặt hàng khác nhau, thường là xe hơi, đồ điện gia dụng…Đại lý độc quyền về việc bán hàng còn có thể thực hiện một số dịch vụ được uỷ quyền như quảng cáo, trả thưởng cho khách hàng hoặc bảo hành, bảo trì sản phẩm.
2.1.3. Các loại trung gian trong kênh phân phối
Ở mỗi cấp độ trung gian trong kênh có thể có nhiều loại trung gian thương mại tham gia phân phối sản phẩm. Ví dụ, kênh phân phối thực phẩm, ở cấp bán lẻ thực phẩm có thể được bán qua các siêu thị, các cửa hàng mặt phố, các quầy hàng trong chợ, những người bán lẻ nhỏ ven đường…
Ngoài cấu trúc chính thức với các thành viên có tham gia mua bán, sở hữu hàng hóa, các kênh phân phối còn có cấu trúc bổ trợ, đó là các tổ chức và các cá nhân trợ giúp cho các thành viên kênh thực hiện các công việc phân phối bằng việc cung cấp cho các thành viên kênh các dịch vụ phân phối chuyên môn hóa như công ty vận tải, công ty bảo hiểm hay công ty kho hàng, ngân hàng.
3. HOẠT ĐỘNG KÊNH PHÂN PHỐI:
Sự hoạt động của kênh phân phối có thể được mô tả qua các dòng chảy trong kênh và mỗi dòng chảy thực chất là một tập hợp các công việc của kênh phân phối.
- Dòng chuyển quyền sở hữu : mô tả việc chuyển sơ hữu sản phẩm từ thành viên này sang thành viên khác trong kênh. Mỗi lần mua và bán là một lần hàng hóa được chuyển quyền sở hữu từ người bán sang người mua. - Dòng thông tin : mô tả quá trình trao đổi thông tin giữa các thành viên kênh trong quá trình phân phối. Dòng thông tin là dòng hai chiều, từ nhà sản xuất qua các trung gian thương mại đến người tiêu dung cuối cùng và ngược lại. - Dòng vận động vật chất : mô tả việc di chuyển hàng hóa hiện vật thật sự trong không gian và thời gian từ địa điểm sản xuất tới địa điểm tiêu dung qua hệ thống kho tang và phương tiện vận chuyển. Đây là tập hợp các công việc liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa, vì vậy đây là dòng chảy có chi phí lớn nhất trong tổng chi phí phân phối hàng hóa qua kênh. - Dòng thanh toán : thực chất đây là toàn bộ các công việc thanh toán giữa thành viên trong kênh, mô tả sự vận động của tiền và chứng từ thanh toán.- Dòng xúc tiến: mô tả sự phối hợp và trợ giúp hoạt động xúc tiến giữa các thành viên trong kênh với nhau. - Dòng đàm phán : các thành viên trong kênh đàm phán với nhau để phân chia các công việc phân phối, xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của từng thành viên trong quá trình phân phối. - Dòng tài chính : đây chính là công việc tạo vốn và hỗ trợ vốn trong kênh phân phối cho các thành viên trong kênh. Người quản trị kênh phân phối phải xây dựng cơ chế tạo vốn hoặc hỗ trợ vốn trong kênh. - Dòng đặt hàng : đây chính là phương thức và cơ chế thu nhập, tập hợp đơn hàng từ người mua cuối cùng trở lại người sản xuất và công việc xử lý đơn đặt hàng của các thành viên trong kênh. - Dòng chia sẻ rủi ro : xác định trách nhiệm của từng thành viên trong kênh về những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình phân phối. Đây cũng là cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các thành viên trong kênh. Tham gia vào hoạt động chia sẻ rủi ro này thường có công ty bảo hiểm. - Dòng thu hồi bao gói : các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mà bao gói có thể tái sử dụng nhiều lần như bia, nước giải khát,… phải tổ chức thu hồi bao gói. Dòng chảy này ngược với dòng vật chất và phải tổ chức và quản lý kết hợp chặt chẽ với dòng vận động vật chất. 4. LỰA CHỌN VÀ QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI
4.1. Lựa chọn kênh phân phối
Căn cứ lựa chọn kênh phân phối: có 7 vấn đề cần xem xét
Xuất phát từ chiến lược Marketing và chính sách Marketing hỗn hợp, chú ý đến
mục tiêu bao phủ thị trường của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn kênh phân phối của doanh nghiệp cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi
các kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh
Cạnh tranh càng mạnh thì nhà sản xuất càng cần những kênh có sự liên kết chặt chẽ.
4.2. Quản lý kênh phân phối
Phù hợp địa điểm với trường mục tiêu không?
Có đủ mặt bằng giao dịch không?
Có uy tín, có khả năng tiếp cận với thị trường mục tiêu không?
Có kỹ năng bán hàng và cung cấp DVKH chuyên nghiệp không?
Có đủ vốn liếng để thực hiện đầu tư ban đầu không?
Trước hết, các nhà sản xuất phải tìm hiểu nhu cầu và mong muốn của các thành
viên trong kênh, các trung gian thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh độc lập, là một thị trường độc lập, có sức mạnh riêng, có chiến lược kinh doanh riêng, các trung gian hoạt động như một người mua cho khách hàng của họ.
Đầu kế hoạch (tháng / quý / năm): DN cấp định mức (danh mục sp, mức dự trữ, doanh số ...) cho mỗi TVK - Kỳ thực hiện cuối cùng (tháng / quý / năm): DN
đánh giá tư vấn nhược điểm, kq đạt được của TVK qua bản “Đánh giá kết quả kinh doanh”.
5. QUYẾT ĐỊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM VẬT CHẤT:
5.1. Bản chất của phân phối sản phẩm vật chất:
tổng doanh số của doanh nghiệp.
Tốt có thể giảm chi phí và qua đó giảm giá bán để thu hút thêm đƣợc khách hàng.
Không tốt doanh nghiệp sẽ mất khách hàng nếu không đảm bảo cung ứng
hàng đúng thời hạn.
5.2. Mục tiêu của phân phối vật chất:
hàng, đúng số lượng và chất lượng vào đúng nơi, đúng lúc với chi phí tối thiểu.
VD: Doanh nghiệp muốn tăng tối đa sự phục vụ khách hàng ngược lại thì phải giảm tối thiểu chi phí phân phối -> Mức độ dịch vụ quan hệ tỷ lệ nghịch với chi
phí phân phối
5.3. Các quyết định phân phối vật chất:
quy trình quản lý đơn hàng của từng cửa hàng sẽ khác nhau.
Số lượng địa điểm kho bải phải kết hợp giữa vấn đề mức độ dịch vụ khách hàng và chi phí phân phối.
Xây dựng kho bãi riêng hay thuê kho bãi công cộng doanh nghiệp dễ kiểm
soát nhưng vốn lớn và khó thay đổi.
5.4. Quyết định khối lượng hàng hoá dự trữ trong kho:
Theo tiêu chí Hình thức Mức độ phục vụ - Bán lẻ tự phục vụ
6.3. Các quyết định Marketing của các doanh nghiệp bán lẻ
- Quyết định về thị trường trọng điểm Nhà bán lẻ cần có đầy đủ thông tin về thị trường trọng điểm. Từ đó xác định được hoạt động của mình phải được định vị như thế nào trên thị trường đó. Quyết định về định vị sẽ chi phối mọi quyết định khác. Và mọi hoạt động Marketing khác có tác dụng củng cố sự định vị của nhà bán lẻ trên thị trường.
Nhà bán lẻ phải quyết định danh mục sản phẩm mà họ bán, chất lượng sản phẩm, các dịch vụ khách hàng kèm theo mỗi loại sản phẩm, và môi trường ở cửa hàng nơi bán hàng, cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
7.1. Khái niệm bán buôn
Bán buôn là tất cả các hoạt động liên quan đến bán hàng hóa, dịch vụ cho những khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức để kinh doanh, hoặc phục vụ cho họat động của họ.
7.2. Phân loại bán buôn:
Có thể phân loại các nhà bán buôn thành 3 nhóm như sau: a) Nhà bán buôn hàng hoá thực sự: Đây là các doanh nghiệp độc lập, mua buôn hàng hoá để bán lại. Họ có quyền quyết định đối với hàng hoá. b) Các nhà môi giới và đại lý Các nhà môi giới có chức năng giúp cho bên mua và bên bán gặp nhau. Họ không mua bán hàng hóa. Họ hưởng hoa hồng từ các hợp đồng môi giới. Các đại lý đại diện cho bên mua, bên bán để cung cấp hàng hoá theo giá của bên bán, và hưởng hoa hồng đại lý theo thoả thuận. c) Chi nhánh văn phòng đại diện của nhà sản xuất Họ là đại diện cho nhà sản xuất để tiếp xúc với khách hàng để thực hiện một số chức năng thương mại được nhà sản xuất giao phó.
7.3. Các quyết định Marketing của nhà bán buôn:
Nhà bán buôn cũng phải ra các quyết định Marketing tương tự như nhà bán lẻ. Đó là quyết định về thị trường trọng điểm; quyết định về danh mục sản phẩm cung cấp và các dịch vụ kèm theo; quyết định về giá cả và các chương trình xúc tiến.
Sau đó, nó trở thành nước giải khát khi 1 nhân viên pha chế đã nhầm siro đó với nước soda thay vì nướ lọc bình thường. c. Phát triển công ty Năm 1891, Asa Candler mua lại công thức với giá 2,300USD. Năm 1892, lập công ty nước giải khát Coca – Cola tại quảng trường Coca-Cola nôỉ tiếng của thành phố Atlanta. Năm 1893, Nhãn hiệu nước ngọt Coca-Cola được đăng ký tại Mỹ. Sau đó, ông mời chào, ký hợp đồng với các nhà đầu tư cá nhân để đầu tư và quản lý các nhà xưởng cá nhân. từ năm 1899 đến năm 1909, đã có 379 nhà máy Coca- Cola ra đời 1899: Chai Coca-Cola đầu tiên được ký kết hợp đồng ra đời tại Chattanooga, Tennessee. 1960: Lon Coca-Cola nhôm 12-ounce (xấp xỉ 355 ml) được giới thiệu ở Mỹ Những năm 20, chai Coke được bán trong hộp sáu chai lần đầu tiên, tăng sự tiện lợi - và tăng doanh số bán Chai Coke nắp viền xuất hiện trên trang bìa của tạp chí TIME vào năm 1950 và bắt đầu thiết lập sự thống trị của thương hiệu Diet Coke, biến thể đầu tiên trong công thức Coca-Cola gốc được phát hành vào năm 1982, có ga không có đường, cho người ăn kiêng Ngày nay, Coca-Cola vẫn đang cố gắng đổi mới ngành công nghiệp nước giải khát. Vào tháng 4 năm 2018, Coca- Cola đã cho ra mắt sản phẩm Coca-Cola băng đầu tiên tại Nhật Bản
d. Một số thành tựu.
Doanh thu 35,410 tỷ đô la Mỹ (2017)[1]
Lợi nhuận kinh doanh
7,501 tỷ đô la Mỹ (2017)[1]
Lãi thực 1,248 tỷ đô la Mỹ (2017)[1]
Tổng tài 87,896 tỷ đô la Mỹ (2017)[1]
sản
Tổng vốn chủ sở hữu
17,072 tỷ đô la Mỹ (2017)[1]
Số nhân viên
Tâp đoàn Coca-Cola hoat đông tai 200 quốc gia trên thế giới Ngày nay, tập đoàn Coca-Cola đã thành công trong công cuộc mở rộng thị trường với nhiều loại nước uống khác nhau ban đầu là nước có gas, và sau đó là nước trái cây, nước tăng lực cho thể thao, nước suối, trà và một số loại
khác Coca-Cola chiếm 3.1% tổng lượng sản phẩm thức uống trên toàn thế giới Trong 33 nhãn hiệu nước giải khát không cồn nổi tiếng trên thế giới, Coca-Cola sở hữu tới 15 nhãn hiệu. Mỗi ngày Coca-Cola bán được hơn 1 tỷ loại nước uống, mỗi giây lại có hơn 10.000 người dùng sản phẩm của Coca- Cola.
2.1.Nguồn gốc, thành phần, công dụng
Nước giải khát Coca-Cola gần như được coi là một biểu tượng
văn hoá tiêu dùng và ẩm thực của người Mỹ. Coca-Cola cũng là
hàng đầu của nước ngọt Pepsi coca, công ty Coca-Cola đã thay đổi công thức Coca-Cola và thay thế sản phẩm “Coca - Cola”
thành “new coke” nhưng 79 ngày sau đó sản phẩm “Coca -
Cola” ban đầu được trở lại thị trường sau các cuộc phản đối của người tiêu dùng.
giữ vững biểu tượng của sự tin cậy, sự độc đáo vốn có và sự sảng khoái tuyệt vời.
Lon Coca-Cola đầu tiên xuất hiện năm 1955, thể tích: 330ml,
300ml
Các Lon Coca-Cola thay đổi qua các năm
Bộ ba lon Coca-Cola bạc 18.2.2013, thu hút nhiều khách hang tuổi teen:
Thiết kế bao bì Coca-Cola với ý tưởng biến lon Coca-Cola đỏ thường thấy thành màu trắng để góp phần kêu gọi bảo vệ nơi ở
của gấu Bắc cực:
Peter Gregson thiết kế 6 series khác nhau của lon Coca-Cola
nhân dịp kỷ niệm 125 năm của nhãn hiệu này với ý tưởng sử dụng quảng cáo và áp phích cũ của Coca-Cola những năm
1930, 1940, để có thể gợi nhớ tới tuổi thọ của Coca - Cola, và cũng là một cái gì đó hoàn toàn mới: