Download prepare for college exam and more Lecture notes Electronics in PDF only on Docsity!
VỢ NHẶT
-Kim Lân-
I. Từ đầu “Họ cùng nín lặng” : Tràng đưa Thị về trong bối cảnh nạn đói.
**1. Không khí ngày đói và bối cảnh nhặt vợ:
- Bối cảnh hiện ra** là nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra đầu năm Ất Dậu (1945), làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói: Có làng chết gần hết, có nhà chết chẳng còn ai, nhiều người chết trên đường đi, chết gục bên gốc cây, chết lăn nơi ngòi rãnh, hè nhà, quán chợ,...Nhiều gia đình, nhiều người phải ăn cháo cám, rau má, củ chuối cầm hơi … mà vẫn không thoát chết. Nguyên nhân của cảnh tượng này là do năm 1940, khi Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương, chúng bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay. Bọn thực dân sau khi thua ở Đông Dương thì ra sức bóc lột nhân dân để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh mới, bọn địa chủ cường hào ở nông thôn ngày càng ức hiếp dân lành. Mất mùa vì hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên. Bởi vậy mà xuân 1945 nạn đói chưa từng có trong lịch sử đã diễn ra cướp đi mạng sống của hơn 2 triệu người dân nước ta. Trong hoàn cảnh đó con người biết chia sẻ cho nhau miếng ăn là cả một nghĩa cử đầy hào hiệp. - Bối cảnh nhặt vợ: Ở trong tác phẩm, cái đói hiện hình cụ thể trên nền không gian đầy ám ảnh khi cái chết đang ngày đêm rình rập mạng sống của người dân ở xóm ngụ cư. Không gian tối sầm vì đói khát được mô tả đầy ấn tượng: “ Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ", “người chết như ngả rạ", “ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường", “mùi gây của xác người". Cái đói nghiêm trọng đến độ hiện hình rõ trên gương mặt một anh chàng hồn nhiên, vô tư như Tràng, nó làm thay đổi diện mạo và thói quen cố hữu của anh, giờ đây gánh nặng đè lên đôi vai, cái lưng gấu kia, “Tràng tỏ ra mệt mỏi, vẻ mặt đăm chiêu, lo lắng". Ngay cả những đứa trẻ cũng “ủ rũ”. Bầu không gian dự báo tai ương ập đến bất kỳ lúc nào. Ấy là những ngày đói Ất Dậu khiến những người đã qua năm 2000 “nhắc lại vẫn rùng mình” (Nam Cao). Sự kiện tương phản với hiện thực là buổi chiều , Tràng về làng cùng người đàn bà lạ mặt. Điều không bình thường đó chính là sự trở lại của khuôn mặt “phớn phở khác thường” và “nụ cười tủm tỉm” trên môi Tràng. Điều khác lạ là trong thái độ của Tràng thay đổi với đám trẻ con vốn quen suồng sã với anh ta, nếu trước đây anh luôn thoải mái đùa với chúng, giờ anh lại “ vội vàng nghiêm
nét mặt, lắc đầu không bằng lòng". Không phải cái đói khổ làm con người ta không thoải mái vui vẻ được với nhau nữa, mà thực chất đó chỉ là sự quan tâm của anh dành cho cô vợ nhặt, anh sợ lũ trẻ đùa như ngày trước. Sự kiện tạo ra sự tò mò ngạc nhiên từ trẻ con đến người lớn. Niềm vui nho nhỏ lóe lên trong cuộc sống tăm tối đói khát nghèo khổ nhanh chóng bị nỗi lo thường trực về cái đói và cái chết lấn át. Kim Lân đã đem đến cho người đọc cảm giác ái ngại, xót xa cho sự trớ trêu của số phận người nghèo trước thực tại khủng khiếp khi hạnh phúc của con người lại phải thành hình trên nền của bi kịch, khi sự sống bị dồn vào ngõ cụt, không lối thoát. Con đường đáng nhẽ gọi là sợi duyên tơ phận giờ bỗng thành con đường rước thêm “cái của nợ đời”. Điều này khiến những người biết nghĩ đều phải thở dài ái ngại. Bóng tối mở ra mênh mông, mùi gây của xác người, tiếng quạ vẫn gào lên thê thiết hiện rõ qua từng con chữ. Nỗi bất hạnh dường như đang chực chờ Tràng và cô vợ nhặt ở phía trước.
2. Con đường về nhà Tràng và sự thay đổi trong tâm lý các nhân vật 2.1. Nhân vật Tràng - Trên đường về:
- Ngòi bút Kim Lân thật tài hoa, tinh tế khi chọn lựa được những từ ngữ thật đắt giá để khắc hoạ chân thực, cảm động gương mặt của một người đàn ông hạnh phúc theo từng cung bậc. Ban đầu là “ cái mặt phớn phở khác thường" , chữ phớn phở như thể hiện một niềm vui của con người đang trực chờ tuôn trào ra. Sau phớn phở đó là “nụ cười tủm tỉm", hai chữ tủm tỉm thật thú vị, nó thể hiện một niềm vui khó tả, đang cố giấu nhưng bằng cách nào đó vẫn lộ ra, không che giấu được. Và cuối cùng là “ hai mắt sáng lên lấp lánh", từ láy lấp lánh như tô điểm thêm hi vọng cho niềm vui của con người, sau niềm vui kia là một sự hi vọng, có chăng Tràng đang tưởng tượng một viễn cảnh hạnh phúc? Liệu chăng sự thật quá lớn lao vượt quá suy nghĩ mơ ước thường nhật của anh Tràng nghèo khổ, xấu xí khiến Tràng không nhận biết hoàn cảnh giống mọi người, anh không nhìn về cái bế tắc của cuộc sống của cái đói nghèo, tâm trí Tràng lúc này là hạnh phúc của riêng anh.
- Không chỉ dừng lại ở gương mặt bên ngoài mà những tâm tư sâu kín của Tràng cũng được Kim Lân khám phá một cách tinh tế. Kim Lân đã khắc họa những chi tiết thật sống động về một gã trai được vợ “thích ý”. Trước ánh mắt của dân làng, Thị chỉ thấy xấu hổ khi mình trở thành tâm điểm của sự chú ý, “người đàn bà có vẻ khó chịu lắm”. Ngược lại Tràng lại lấy “thích ý", nghĩa là thấy sung sướng, hân hoan, đắc ý và thú vị. Kim Lân tiếp tục miêu tả nội tâm nhân vật Tràng, “cái mặt cứ vênh vênh tự đắc với mình”. Chỉ “trong một lúc” ngắn ngủi nhưng nhà văn đã làm rõ được sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn Tràng, tạo mối dây ràng buộc hai con người khốn khổ lại
Đáng sợ hơn, nó không chỉ biến đổi nhân dạng mà còn lấy mất của thị lòng tự trọng, tính sĩ diện cần thiết ở một con người. Nó làm cho thị trong lời nói “sưng sỉa, cong cớn” qua lời nói “đon đả” chẳng còn một tư cách người nào. Tràng thành chiếc phao cứu sinh để Thị được ăn. Bởi ăn là sống, không ăn là chết. Ranh giới sự sống – cái chết đã không cho thị quyền chọn lựa. Thị trở thành hiện thân của con người bản năng.
- Còn gì chua chát hơn sau lúc “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” , lại sẵn sàng theo không kẻ cho ăn về làm vợ, chi tiết ấy khiến người đọc thương hại thay cho chị. Nhân phẩm đã mất, dường như Thị đã biến thành nô lệ của miếng ăn, bởi vì sau bữa ăn vội vàng thô tục ấy Thị còn tiếp tục cùng Tràng “Ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê”. Ấy vậy mà tuyệt nhiên nhà văn không để bộc lộ một mảy may thái độ phản ứng nào của Tràng trước những việc làm đáng khinh của Thị, nên đọng lại trong ta một cái nhìn đầy thương hại cho Thị mà thôi.
- Phải đến khi xuất hiện trong xóm ngụ cư, Thị mới hiện lên với đầy đủ tâm trạng, mặc cảm về thân phận vợ nhặt. Trái ngược với Tràng, thị bước đi trong dáng “Đầu hơi cúi xuống”, “rón rén, e thẹn”, “chân nọ bước díu cả vào chân kia”. Bởi thị sợ những ánh mắt tò mò sẽ phơi ra sự thật phũ phàng về thân phận vợ nhặt. Kim Lân đã đặc tả vào thái độ của Thị như gợi tả bao suy tư sâu sắc về kiếp người trong những ngày đói quay quắt. Cái nghèo gặp cái eo, báo cho họ biết những ngày túng đói đe dọa. Nếu vấn đề của Tràng quẩn quanh trong mong ước tạo nên hạnh phúc bền lâu thì vấn đề của Thị lúc này là vượt lên nạn đói. Nhà văn đã kéo dài khoảnh khắc ấy để giúp người đọc hình dung, giả định những khả năng sẽ xảy đến cho nhân vật, để có những suy ngẫm cảm thông, ngậm ngùi cho thân phận con người trong hoàn cảnh trớ trêu. **II. “Người đàn bà như cũng biết… thành vợ thành chồng” : Tâm trạng của Tràng và chị vợ nhặt khi về đến nhà
- Tâm trạng của Tràng** : - Sau khi nhặt được vợ, tâm trạng Tràng có sự thay đổi rõ rệt. Có ai ngờ được rằng, vài câu bông đùa, tếu táo lại có phần ngờ nghệch lại khiến Tràng có một quyết định táo bạo, đã thay đổi tâm trạng và số phận của những con người trong gia đình đói khổ. Đời sống tinh thần dịch chuyển từ những gam màu u ám, chết chóc sang ánh sáng ấm áp của niềm tin và hi vọng. Trong hoàn cảnh khốn cùng, Tràng vẫn khao khát hạnh phúc, có ý thức tạo dựng mái ấm gia đình. - Trước ánh mắt ngạc nhiên, những tò mò phỏng đoán của dân làng: Thị thì chỉ thấy xấu hổ còn Tràng lại “thích ý lắm”. Tràng sung sướng, hân hoan vô cùng, cái mặt hắn cứ “vênh lên tự đắc” đầy hãnh diện.
Cái "vênh lên" đầy kiêu ngạo ấy không phải là hành động ăn mừng đầy phô trương, ngạo nghễ của kẻ thắng cuộc với chiến lợi phẩm mà anh ta thu được. Ngược lại, nó mang nét gì rất bản năng, rất đàn ông của Tràng. Ấy là sự tự hào, tự tin trước thiên hạ, rằng ngờ nghệch là thật, cục mịch, sần sùi, rỗng tuếch là thật nhưng tôi đủ bản lĩnh, đủ yêu thương để người khác có thể nương tựa vào mình! Xây dựng sự đối lập về cảm xúc giữa Tràng và Thị, Kim Lân đã rất khéo léo khẳng định được sự đúng đắn của mối tình có phần bất ngờ và trái ngang này. Một người đàn ông đủ can đảm để có thể "thích ý" trước những soi mói của dân làng, một người phụ nữ đủ hiền hậu, nhẫn nhịn và vị tha để không còn "chao chát" mà e thẹn, ngượng ngùng trong ngày ra mắt nhà chồng.
- Về đến nhà: Lúc đầu Tràng cảm thấy “ngượng nghịu” rồi cứ thế “đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ”. Trong căn nhà của Tràng, xưa nay chỉ có anh, có bà cụ, kẻ tóc bạc, người đầu xanh nương tựa vào nhau, vốn chẳng dám mơ đến cảnh con cháu sung túc, có của ăn, của để, có tiếng cười, tiếng nói của ai khác trong nhà. Vậy mà giờ đây, Thị về với Tràng như một nguồn sáng mới, một sự trỗi dậy mạnh mẽ, khiến trong phút chốc, Tràng ngẩn ngơ, mơ hồ, "tây ngây" như chẳng rõ mình phải làm gì. Phút giây bối rối, thẫn thờ ấy hệt như cái cách mà tình yêu vẫn rực cháy trong tâm tưởng kẻ say tình, si tình: "Con tằm bối rối vì tơ Anh say vì rượu, em ngẩn ngơ vì tình." Hay: "Thương em tình gởi trong mơ Nhớ em rạo rực như bờ sóng xô." Nhưng giờ đây, dẫu có mông lung điều gì thì Tràng cũng không thể ngăn nổi nỗi hạnh phúc, sự sung sướng tột bậc trong mình. Anh sung sướng đến mức không dám tin là mình đã có vợ - lại có vợ trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le như thế này: “hắn vẫn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Lúc sau, Tràng băn khoăn, áy náy, xót xa trước về buồn rầu của Thị. Hắn đi qua đi lại, tự hỏi: “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ?...Ồ sao nó lại buồn thế nhỉ?...”. Tràng nôn nóng, sốt ruột trong lúc đợi bà cụ Tứ về: “Sao hôm nay bà lão về muộn thế không biết?” Chưa bao giờ hắn lại thấy nôn nóng như thế. Ngòi bút tài hoa của Kim Lân đã cho người đọc thấy được diễn biến tâm lí chân thực, sinh động của Tràng. Như ước mơ bao lâu nằm yên trong tiềm thức giờ đây trở thành hiện thực, những câu hỏi tu từ liên tiếp hiện lên trong anh như một lần nữa tô đậm sự mãn nguyện rất bản năng của anh. Rằng: hạnh phúc không tự nhiên mà có, nó là kết quả của năm tháng đằng đẵng mong đợi, nghĩ suy và trăn trở. Bởi vậy, dẫu hạnh phúc có đến bất ngờ và có lẽ hơi "xoàng xĩnh" cũng đủ sưởi ấm anh, sưởi ấm bà cụ trong những heo hút và ảm đạm của cuộc đời. Anh nóng lòng mong chờ bà cụ Tứ, phải chăng để khẳng định: anh cũng có đủ sức vóc
- “Vợ nhặt” đã nói lên cái hình tượng nghệ thuật về một sự thực lịch sử là nạn đói 1945 từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói, cái nạn đói mà trong “Đôi mắt” của Nam Cao, nhân vật Độ đã hồi tưởng “Cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cái chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình”, 2 triệu người quằn quại chết trên tổng dân số 20 triệu người không phải là con số ít ỏi. Bóng đen chết chóc đã phủ xuống xóm làng Việt Nam. Người chết như ngã rạ, không buổi sáng nào không gặp 3, 4 cái thây nằm chòng queo bên đường” Kim Lân gọi họ là những bóng ma vật vờ trên dương thế. “Bóng những người đói dật dờ đi lặng lẽ như những bóng ma”. Con người và bóng ma; cái ăn và cái đói, sự sống và cái chết, chỉ là một lằn ranh như sợi tóc. Tất cả đang bước về phía ma.
- Người chết đã đành, những người sắp chết còn bi thảm hơn, có thể thấy điều này qua nhân vật cô gái vô danh sẽ là một người vợ nhặt cũng vô danh của nhân vật Tràng. Cái đói đã làm cho thị rách rưới như tổ đỉa và cái mặt của cô ta trở nên gầy guộc khô lạnh như lưỡi cày. Cô sẵn sàng sà xuống quán ăn liền tù tì một lúc 4 bát bánh đúc và sau đó lon ton chạy theo một người đàn ông không quen để làm vợ với mục đích khỏi chết đói. Đầy liều lĩnh, buồn vui, lo âu, hi vọng. *** Tóm tắt tình huống truyện:**
- Tràng là một chàng trai sống ở xóm ngụ cư nghèo, mà lại xấu xí, dở hơi, tưởng không thế nào lấy được vợ. Thế mà Tràng lại “nhặt” được vợ nhờ mấy câu bông đùa “tầm phơ tầm phào”, nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ tỉnh.
- Tình huống truyện diễn ra ở một khoảnh khắc đặc biệt khi nạn đói khủng khiếp năm 1945 đang đe dọa cuộc sống từng con người trong mỗi gia đình, mỗi làng xóm: “Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
- Bản thân Tràng làm lụng nuôi thân mình và mẹ già đã khó, nay lại “đèo bòng” thêm một người vợ “nhặt”. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ đã làm cho mọi người vô cùng ngạc nhiên. Trẻ con trong xóm ngụ cư ngạc nhiên, người lớn cũng ngạc nhiên: “Ai đấy nhỉ?”; “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nhau sống qua được cái thì này không?”. Mẹ của anh cũng ngạc nhiên: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Sao lại chào mình bằng u?... Ai thế nhỉ?”. Nhưng khi hiểu ra cơ sự, tâm trạng của bà mẹ nghèo nàn, lam lũ, cơ cực một đời, giàu đức hi sinh lại ngổn ngang những mâu thuẫn: vừa mừng vui, vừa tủi cực, vừa lo lắng, vừa ngao ngán: “…chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.
- Còn bản thân anh Tràng cũng không ngờ được, cứ “ngỡ ngàng như không phải”. Thật đúng là một tình huống éo le, giàu kịch tính. *** Ý nghĩa nhan đề**
- Vợ: biểu tượng cho khát khao tổ ấm, hạnh phúc gia đình, mang ý nghĩa trọng đại và lớn lao.
- Nhặt: hành động rẻ rúng, tầm thường. → Vợ nhặt có nghĩa là nhặt được vợ, gợi sự rẻ rúng của thân phận con người và tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói năm 1945.
- Người ta dựng vợ gả chồng lúc ăn nên làm ra, qua tìm hiểu và yêu thương nhau, nhưng Tràng đã đi ngược lại với tất cả điều đó. Nhan đề Vợ nhặt được nhà văn Kim Lân đặt ra không chỉ gây ấn tượng, tò mò với bạn đọc mà còn phản ánh đúng tính chất, nội dung của câu chuyện. → Nhan đề tuy giản dị, mộc mạc nhưng đã gọi một phần to lớn vào việc làm nên giá trị và thành công cho tác phẩm. * Bức tranh xám ngắt về nạn đói:
- Bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma và sau đó là '“người chết như ngả rạ”, “thây nằm còng queo bên đường”, không khí vẩn lên mùi gây cùa xác người”, rồi “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” và “tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya" Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư, ùa vào gia đình anh Tràng, bủa vây và đe dọa số phận từng con người, không trừ một ai.
- Bức tranh về số phận những con người trên bờ vực thẳm của nạn đói: Ở xóm ngụ cư là '‘những khuôn mặt hốc hác u tối” trong “cuộc sống đói khát”, “không nhà nào có ánh đèn, lửa”, đến cả trẻ con cũng “ngồi ủ rũ dưới những xó đất; không buồn nhúc nhích”. Trong gia đình Tràng thì bà cụ Tứ già lão không làm được gì, anh con trai đẩy xe bò thuê để kiếm sống qua ngày, người con dâu áo quần rách như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trùng hoáy, cái ngực gầy lép nhô hẳn lên”. Số phận của họ có khác gì “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại” và bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”...
Bình luận: Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa. Tội nghiệp thay, người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa. Một người vì tình yêu, người kia vì miếng ăn. Nói tóm lại là họ LIỀU, nhưng cái Liều kia của họ làm người ta bật khóc. Bây giờ thì họ là người dũng cảm, dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới của sự sống và cái chết. Họ làm ta khâm phục và kính trọng, phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói? _Giá trị hiện thưc sâu sắc qua tình huống “nhặt vợ”_*
- Trước hết là tình cảnh của người dân Việt Nam: Tràng đưa vợ về nhà và bắt đầu cuộc sống gia đình trong khung cảnh xóm ngụ cư bao quanh chỉ toàn chướng khí âm khí với những đám người “dắt díu nhau, xanh xám dật dờ như những bóng ma” bên những người chết “còng queo” chưa kịp chôn cất, với âm thanh của tiếng hờ khóc người chết, tiếng quạ gào lênn từng hồi “thê thiết”, với mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác chết, và nhất là với bóng tối lạnh lẽo thê lương trùm phủ xóm làng…
- Không dừng lại ở những hình ảnh hay âm thanh bức tranh hiện thực ngày đói, Kim Lân còn khiến người đọc cảm thấy xót xa thương cảm khi mô tả sự chi phối tàn nhẫn của đói khát đối với những giá trị của con người:
- Sự đói khát đã khiến cho bộ dạng hình hài của con ngườ tiều tuỵ thê thảm. Trẻ con xóm ngụ cư ủ rũ như những ông già, người lớn mặt u tối hốc hác, người vợ nhặt mặc bộ quần áo rách tả tơi như tổ đỉa, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt…
- Không chỉ huỷ hoại hình hài, sự đói khát còn huỷ hoại đi cả nhân cách con người. Điều này thể hiện chua xót nhất trong nhân vật người vợ nhặt, một người đàn bà phải vứt bỏ những ý tứ những phép tắc xã giao, những sĩ diện xấu hổ bấu víu vào một câu hò đùa bâng quơ để kiếm miếng ăn thật, phải gạt phăng miếng trầu xã giao lễ nghĩa chọn bốn bát bánh đúc hòng lấp đầy cái dạ dày đang trống rỗng, phải vứt bỏ cả lễ nghi lễ giáo và sự thận trọng, bám vào một câu đùa tầm phơ tầm phào để theo không một người đàn ông xa lạ, mong muốn tìm chốn nương thân, hi vọng trốn chạy khỏi cái đói đang giơ móng vuốt đen chết chóc ngay bên cạnh. => Miếng ăn ngày đó đã trở thành sự khởi đầu và đích đến cú một mối quan hệ thiêng liêng cũng là nhân tố chi phối khốc liệt nhân cách của con người. _Giá trị nhân đạo qua tình huống “nhặt vợ”_*
- Bộc lộ niềm đau xót thương cảm đối với cuộc sống bi đát của người dân nghèo trong nạn đói: Mở đầu tác phẩm Vợ nhặt là bức tranh này đói thật hãi hùng xóm ngụ cư như chìm trong bóng đêm chết chóc tăm tối ảm đạm ở đây thiếu vắng sự sống hoặc sự sống le lói như ngọn đèn trước gió. Cõi âm và cõi dương nhạt nhòa, sự sống mấp mé bên bờ vực của cái chết.
- Tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân phát xít đối với nhân dân ta: Đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã từng viết “Vì chưng hay ghét cũng vì hay thương”. Vì thương nên mới ghét những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của con người. Vì thế từ lòng xót thương đồng cảm, ngòi bút của Kim Lân đã lên án tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến phát xít đã dồn đẩy cả dân tộc ta vào cảnh khốn cùng, ngòi bút ấy chỉ gợi lên những cảnh, những người năm đói mà đã làm cho người đọc phải căm hận đến tột cùng tội ác tày trời của chúng. - Khám phá, phát hiện, trân trọng và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân: Nhân vật Thị- con người ấy như một cánh bèo trôi dạt trong bể đói. Tố Hữu đã viết: “Kiếp người cơm vãi cơm rơi Biết đâu nèo đất phương trời mà đi.” (Ba mươi năm đời ta có Đảng) Tuy vậy phải thấy bản chất của người vợ nhặt là rất tốt đẹp lương thiện những xộc xệch về nhân hình với nhân tính kia chẳng qua là sau cái đói sinh ra người vợ nhặt sẽ hồi sinh khi hạnh phúc gia đình đến với Thị. Nhân vật Tràng đàng sau những câu nói tầm phơ tầm phào những quyết định táo bạo thật ra lại là người nhân hậu hiếu thảo. Hạnh phúc đến quá đỗi đột ngột đã khiến Tràng bộc lộ ra một nét tính cách khác lãng mạn hơn trưởng thành hơn và có ý thức đầy đủ chăm lo cho gia đình cái tổ ấm nhỏ của cậu. - Hé mở con đường đổi đời tươi sáng tích cực cho người dân cuối cùng: Bằng cách để cho Tràng bừng tỉnh khi được giác ngộ “lá cờ đỏ to lắm” là của Việt Minh và đoàn người đói ầm ầm đi trên đê chính là Việt Minh đi phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo nhà văn tin tưởng rằng những người dân nghèo khổ như chàng sẽ đấu tranh dưới ngọn cờ của đảng đó chính là con đường giúp họ đổi đời đúng đắn tươi sáng nhất. Bàn về vai trò của tình huống truyện, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra một tình huống nào
trạng của một chú rể hạnh phúc thì diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ theo chiều gấp khúc mang nỗi niềm trắc ẩn trong chiều sâu tâm hồn của một người mẹ từng trải, nhân hậu. Diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ được Kim Lân miêu tả qua 4 chặng lớn. b. Tâm trạng ngạc nhiên:
- Khi về đến nhà, bà cụ Tứ ngạc nhiên vì thấy một người đàn bà lạ trong nhà mình, bà cụ không nhận ra đó là ai và hàng loạt câu hỏi đặt ra trong tâm trí già nua của bà: “ Quái sao lại có người đàn bà nào trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải cái Đục mà. Ai thế nhỉ?”
- Nét tâm trạng ngạc nhiên này là thường tình, tự nhiên mà hợp lý. Bởi Thị là một người lạ, bà cụ Tứ chưa một lần gặp mặt. Tuy nhiên điều khiến bà cụ quá đỗi ngạc nhiên, phải, bà làm sao ngờ được giữa năm đói, nhà lại nghèo mà con trai bà lại dẫn không về một người vợ! Băn khoăn mãi khi hiểu ra, “bà lão cúi đầu nín lặng”, vừa “ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình”. Thương con để rồi tủi phận mình. “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc nhà ăn nên làm nổi, còn mình thì…”. Đọc những dòng này, ta có cảm giác như trái tim người mẹ trong cái thân hình còm cõi đang rung lên đau đớn, xót xa. Việc trọng đại trong đời con, lẽ ra “làm được dăm ba mâm cơm mới phải”, nhưng "nhà mình nghèo quá”, nên điều đó chỉ nằm trong suy nghĩ, không thực hiện được.
- Trái tim của người mẹ vốn rất nhạy cảm, riêng tư với chuyện của con cái khi đến tuổi dựng vợ gả chồng nhưng sao Kim Lân lại để bà cụ ngơ ngác quá lâu như vậy? Phải chăng Kim Lân muốn người đọc hiểu chính sự quẩn quanh, bế tắc của hoàn cảnh đói khát đã đánh mất ở cụ Tứ sự nhạy cảm của người mẹ. c. Mừng lòng chấp thuận:
- Khi biết người phụ nữ theo không con trai mình bà cụ Tứ đã khóc, những giọt nước mắt xót tủi, mừng vui của một người mẹ hiểu đời. Cụ nói với các con: “ Các con phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng….”. Ở đây không phải “bằng lòng” mà là “mừng lòng” nghĩa là sự chấp nhận của bà cụ Tứ không có sự khiên cưỡng, gượng ép. Cụ Tứ mừng lòng bởi con trai đã có vợ điều mà cụ chưa bao giờ nghĩ đến. Con có vợ nghĩa là nó đã nên người.
- Bà cụ thương con, tủi phận rồi lại thương dâu, xót xa cho thân phận của Thị, cụ nghĩ: “ người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy con mình”. Bà cụ cư xử với thị thân mật và thương yêu. “ Con ngồi xuống
đây. Nhồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Điều này cho thấy dẫu trong hoàn cảnh nạn đói, miếng cơm manh áo liên quan đến cả sinh mạng con người nhưng bà cụ Tứ vẫn sẵn sàng chia sẻ với người vợ nhặt một chỗ ở chật hẹp, những miếng ăn cuối cùng. Sẵn sàng đón nhận thị làm dâu chứng tỏ cụ có một trái tim yêu thương sâu sắc. d. Tâm trạng buồn tủi thương, lo đan xen
- Cụ Tứ vui vì con trai đã có vợ nhưng niềm vui không cất cánh lên được bởi nỗi buồn tủi đè nặng trong tâm hồn. Bà lão cúi đầu im lặng. Bà lão đánh giá hôn nhân của con trai mình bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của cả một chuỗi đời nặng nhọc, bằng cả ý thức sâu sắc giữa hoàn cảnh sống đói khát.
- Trước hết cụ Tứ tủi vì con có vợ trong hoàn cảnh nghèo đói, đến một mâm cơ cúng tổ tiên cũng không có. Truyện trăm năm của đời người mà đơn giản đến xót xa, tội nghiệp. Bà cụ ai oán nghĩ : “ Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, nở mặt sau này, còn con mình thì…”
- Bà cụ buồn tủi vì phận làm mẹ mà không giúp được gì cho con: “ Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…”. Cả đời cụ Tứ chắc hẳn đã phải khóc rất nhiều. Người già vốn rất ít khóc, vậy mà trước hoàn cảnh éo le khốn khổ của con bà cụ đã khóc với những giọt nước mắt xót xa, hờn tủi. Giọt nước mắt của bà cụ Tứ vừa là hiện thân của nỗi thương thân tủi phận vừa là biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng.
- Càng buồn tủi bao nhiêu bà cụ lại càng thương con bấy nhiêu. Tâm trạng bà cụ giằng xé trong những lo âu trăn trở:
- Bà cụ cay đắng lo sợ nghĩ: “ biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”
- Chuỗi tâm lí của người già bị đeo bám triền miên bởi quá khứ cay đắng. Bà lão miên man man nghĩ đến đời ông lão và đời mình. Qúa khứ thành thước đo của hiện tại. Bà lão lo cho tương lai của các con: “Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài… Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?” Trong căn nhà tối tăm, lòng bà cụ cũng tối sầm lại vì những ý nghĩ u ám, khổ đau.
- Bà cụ nói với các con: “Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…” Bà cụ nghẹn lời ko nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Cụ Tứ lại một lần nữa khóc. Hình ảnh “ nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng” chất chứa nỗi đau, sự thương lo đến đỉnh điểm của một người mẹ thương con.
1. “Sáng hôm sau...khác lạ” : cảm giác đầu tiên của Tràng vào sáng hôm sau. - Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng sung sướng, ngây ngất đắm chìm trong men say của hạnh phúc, của sum họp, của đủ đầy hơi ấm gia đình. Tràng cảm thấy "êm ái lửng lơ", cơ hồ như là người vừa bước ra khỏi đám mây bồng bềnh trong câu chuyện cổ tích. Hạnh phúc đến quá đỗi bất ngờ khiến ngay chính bản thân Tràng cũng chưa thể tiếp nhận ngay được, “việc hắn có vợ đến hôm nay vẫn ngỡ như không phải”. Có cái gì mới mẻ, lạ lẫm chưa từng có ở người đàn ông này. Chẳng giống như những lời bỏ ngỏ còn đầy ẩn ý, ân tình lại đầy duyên dáng, khôi hài trong ca dao: "Phải duyên phải kiếp thì theo Giàu ăn khó chịu lo gì mà lo" Chỉ một vài câu bông đùa, vài đồng bánh đúc, cũng là "phải duyên phải kiếp" mà hắn đã lấy được vợ, một điều thật khó tưởng với một kẻ ngốc nghếch, thô kệch lại nghẻo khổ như Tràng. Thế nhưng, giờ đây, tuy tình yêu dâng tràn, hạnh phúc có, sung sướng có nhưng cưới vợ, âu vẫn là một chuyện hệ trọng. Cái thứ chuyện ấy lại càng đáng để lo, để nghĩ trong cái cảnh bần hàn, "khố rách áo ôm", lại mẹ già, lại đói kém như Tràng. Hắn khi này bắt đầu nhìn nhận lại sự thật, rằng cảnh "giàu ăn khó chịu", tình "đầu ấp tay gối" không thể qua loa đến vậy. Tràng ở trong sự xung đột về trách nhiệm, về tương lai, không phải của một mà là ba người, cùng với sự băn khoăn và ngờ vực về quyết định quá đỗi ngẫu hứng của bản thân. => Nét tâm trạng này không chỉ lột tả tình thế "tiến thoái lưỡng nan" của nhân vật Tràng mà còn tô đậm thêm tính chất éo le của tình huống nhặt vợ.
- Trong khoảnh khắc hạnh phúc bất ngờ ấy, Sửa: Tuy vậy, Tràng giờ lại trở thành người sung sướng nhất, Tràng quên luôn cả cái đói cái rét đang đeo đuổi từng ngày. Tình yêu, sự gắn bó đặc biệt và niềm tin giữa người với người đã khiến cho cuộc đời Tràng như được cứu rỗi. Trong Tràng trỗi dậy một ước ao hạnh phúc, mơ về những giá trị cốt lõi của cuộc sống trong sự đồng hành của gia đình. Tình yêu khi này thật giống như thủy triều, trào dâng và choáng ngợp, khiến người ta hồi sinh và bừng tỉnh. => Bằng sự am hiểu sâu sắc tâm lí nhân vật, nhà văn Kim Lân đã miêu tả rất chân thực niềm hạnh phúc bất ngờ mà lớn lao của anh chàng nông dân quê mùa: từ gương mặt, nụ cười, ánh mắt đến tâm tư trong lòng. => Có thể nói, việc xây dựng tính tương phản trong cảm xúc, từ lo lắng, bồi hồi đến vui sướng, hạnh phúc cùng với cách phác họa độc đáo mà chân thật con người của làng quê thân thuộc, của những gì sơ khai và đẹp đẽ, đã giúp trang văn Kim Lân mang đậm tính đời sống. Đúng như Balzac từng khẳng định: "Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại". 2. Nhà cửa... Thấm thía cảm động => quang cảnh thay đổi - Bên cạnh việc miêu tả sự thay đổi đang diễn ra bên trong tâm hồn Tràng, Kim Lân còn hướng ngòi bút ra ngoài để khắc họa sự chuyển biến của ngoại cảnh.
Tác giả đã sử dụng những hình ảnh gần gũi, bình dị đơn sơ, biện pháp liệt kê, đối lập tương phản cùng cách miêu tả chi tiết, cụ thể để khắc họa rõ nét những thay đổi về cảnh vật trong căn nhà ấy. “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng” Quần áo đã được đem ra sân hong Cái ang khô cong đã được đổ đầy nước Đống rác mùn tung bành đã hót sạch => Mọi vật dường như được gột rửa, xóa tan màn bụi mờ của sự đói nghèo và chết chóc. Căn nhà dường như đã được hồi sinh để đón chào một cuộc sống mới với niềm tin và hy vọng.
- Đặc biệt hiện lên trên ấy là hình ảnh “ánh nắng”. Nó không chỉ diễn tả sự trong trẻo của buổi sáng mà còn mở ra một không gian thoáng đãng, mát mẻ, tươi mới. Không giống như ánh nắng tàn đầm đậm ưu tư của chiều hạ cuối trong những vần thơ của Bùi Giáng: "Nắng buồn thương nhớ bên nhau Nhìn lưa thưa lá niềm đau trong cành Giọt mờ trong mắt em xanh Tự ngày đất đỏ chân đành bước đi." (Nắng buồn) Cũng không giống ánh nắng nhạt, sầu dâng đầy trên những tình yêu còn dang dở trong trang thơ Xuân Diệu: "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu! Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…" (Vì sao) Ánh nắng trong lành, tươi mới và vẹn nguyên ấy soi sáng tất thảy những gì cô đơn, ảm đạm và lạnh lẽo nhất. Có lẽ chính người vợ nhặt đã đem đến ánh sáng, luồng sinh khí, hơi ấm, sự sống cho căn nhà Tràng. Quang cảnh nhà anh khi này dẫu vẫn đơn sơ, nghèo khó nhưng nó không còn trống vắng, đìu hiu, quạnh quẽ như trước đây, mà trở nên thật ngăn nắp, gọn gàng vì đã có hơi ấm bàn tay chăm lo, vun vén của người phụ nữ, không phải trong chốc lát mà là cả quãng đời về sau… 3. “Bỗng nhiên hắn... sửa căn nhà" => Những thay đổi, chuyển biến rõ rệt trong lòng Tràng
- Hạnh phúc như một liều thuốc khơi dậy ý thức về bổn phận ở Tràng. Lần đầu tiên, trong Tràng sống dậy một cảm giác khác thường: “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó… lạ lùng với cái tổ ấm mà hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái”. Cảm xúc từ đột ngột, bỡ ngỡ cho đến vui sướng khi biết mình có gia đình. - Hạnh phúc còn khiến Tràng trưởng thành trong nhận thức. Tràng ý thức được bổn phận, trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình: “bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.
có hai lưng lưng bát đã hết nhẵn " nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Bà lão còn rất tâm lý khi "nói toàn chuyện vui, toàn chuyên sung sương sau này" , bà mở ra một viễn cảnh tương lai: "Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gả. Tao tính rằng cái chỗ đấu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quả. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem.” Giữa những ngày đói khát, trong hoàn cảnh tối tăm mà bà nhắc chuyện toàn chuyện tương lai, về sự sinh sôi nảy nở và một cuộc sống mới. Đó là tấm lòng của một người mẹ đang cố vun vén cho hạnh phúc gia đình của các con, dù không thể cho con một tương lai nhưng bà đang gieo vào đôi vợ chồng trẻ những tia sáng của niềm tin. Đúng như Kim Lân đã khẳng định: "Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống". Ngay trong cách bà cụ Tứ gọi nồi “cháo cám” là “chè khoán” cũng có thể thấy được tinh thần lạc quan mà bà đang truyền đến cho hai người con. Thứ thức ăn vốn không dành cho người ăn ấy lại được bà giới thiệu một cách vui vẻ đến thế. => Kim Lân đã miêu tả thật sâu sắc tâm lí ấy qua một hệ thống ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, thể hiện qua từng lời nói, cử chỉ, hành động. Phải là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, có tấm lòng thấu hiểu và cảm thông thì Kim Lân mới có thể viết nên những trang văn có sức lay động hồn người đến vậy. Nhà văn đã thêm một lần khắc sâu vào tâm khảm bạn đọc về sự cao cả và thiêng liêng của tình người trong cảnh tối tăm hoàn cảnh. Tưởng chừng như cái đói, cái nghèo, sự kiệt quệ về tinh thần lẫn thể xác sẽ giày vò con người, tha hóa hay làm ô uế, bần hàn họ. Song, đâu đó, tình người, lòng yêu thương, niềm tin và hy vọng vẫn le lói xuất hiện, khiến thế giới gần như tan vỡ bỗng chốc bừng lên hơi ấm của tương lai… VI. “Bữa cơm ngày đói… tâm trí mọi người” : Tâm trạng của 3 người trong bữa cơm ngày đói KHÁI QUÁT CHUNG: Chi tiết bữa cơm ngày đói là chi tiết đặc sắc tái hiện chân thực tình cảnh khốn cùng của người nông dân trong tình cảnh nạn đói hoành hành, đồng thời chứa đựng giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc. (Vận dụng khéo léo lí luận về chi tiết nghệ thuật, viết từ 3 đến 4 câu: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” (M. Gorki). Có thể nói, chi tiết là điểm sáng của tác phẩm được hội tụ từ cái tài, cái tâm và cái tầm của người cầm bút. Như giọt nước kết tinh cái mặn mòi của biển cả, chi tiết thể hiện vốn sống của nhà văn, đồng thời tạo ra “đất diễn” tuyệt vời để nhân vật thỏa sức thể hiện tính cách, suy nghĩ, cảm xúc của mình. Trong tác phẩm “Vợ nhặt”, Kim Lân đã khéo léo tạo ra điểm sáng thổi bùng lên chủ đề thiên truyện qua chi tiết bữa cơm ngày đói. Đây là chi tiết đắt, giàu sức gợi, chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc).
Trong bữa cơm đầu tiên:
- Hoàn cảnh: Thông thường bữa cơm ngày đầu tiên đón con dâu về sẽ rất quan trọng vì nó thể hiện được sự gắn kết của con dâu với nhà chồng. Nhưng với gia đình Tràng thì bữa cơm đầu tiên ấy lại vô cùng đơn giản, đơn giản đến thảm hại "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành". =>Chỉ với những chi tiết đơn giản nhưng Kim Lân đã khắc họa được sự khủng khiếp của nạn đói lúc ấy. Lúc này ăn chỉ để sống qua ngày, con người đang cố gắng giành lấy chút sự sống mong manh từ tử thần. Ở đây, Kim Lân đã thể hiện tài năng ngôn ngữ của mình qua những hình ảnh đầy sức gợi hình gợi cảm, gây ám ảnh sâu sắc trong tâm trí bạn đọc. Bữa ăn chỉ được chuẩn bị qua loa, sơ sài, song, nó đã nói lên sự nghèo đói của một gia đình ở tầng lớp dưới cùng của xã hội. Đồng thời, chính bữa cơm này cũng tái hiện lại chân thực cái đói cái nghèo những năm
- Họ đang cố gắng giành giật lại từng chút sự sống từ bàn tay của tử thần. Và điều cần nhất lúc này không còn là ăn ngon, đủ ăn mà chỉ cần có cái ăn để được sống.
- Cảm xúc: Bữa cơm được chuẩn bị sơ sài đến thảm hại nhưng gia đình Tràng đều ăn rất ngon lành. => Có lẽ ai cũng hiểu được hoàn cảnh lúc này nhưng họ cố nén cảm xúc trong lòng và cố tỏ ra vui vẻ để động viên nhau, làm động lực giúp nhau vượt qua hoàn cảnh khốn cùng này. Nhưng cũng có lẽ đó là niềm vui thật sự bởi dù trong gian khổ nhưng họ vẫn có nhau, vẫn lạc quan và vẫn hạnh phúc yêu thương nhau. Bao trùm không khí bữa ăn vẫn dào dạt tình người. Mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu: Vượt qua mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu hà khắc và hoàn cảnh nghèo khó bà cụ Tứ vẫn đón nhận, cảm thông và yêu thương cô con dâu mới, gia đình họ vô cùng hòa hợp, hạnh phúc. Chính vì thế mà trong bữa cơm "Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà... này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem". => Những câu chuyện bà nói đều là những chuyện tốt đẹp sau này, đều nói về tương lai tươi sáng đầy hy vọng phía trước. Qua đây ta thấy được sự lạc quan, luôn hướng về phía trước của bà cụ Tứ, cũng như của cả đất nước trong cái giai đoạn khó khăn cực khổ ấy. Bà vừa là người thắp lửa và cũng là người truyền lửa. Thắp lên những niềm vui, lạc quan vào cuộc sống và truyền cho con cái những lạc quan ấy để các con hướng về tương lai tươi sáng.