Download so good because so amazing and more Thesis Labour Law in PDF only on Docsity!
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN&TRUYỀN
THÔNG
TIỂU LUẬN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Tên đề tài: Phân tích những bước đột phá đổi mới kinh
tế của Đảng thời kì trước đổi mới (1975-1986). Ý nghĩa
những đột phá đổi mới thời kì trước đổi mới?
Nhóm Sinh viên thực hiện: Nhóm 4
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Vũ Thị Thu Hà
Nhóm Lớp : 523100A
Mục lục
1. Bối cảnh lịch sử ...................................................................... 3 1.1. Hoàn cảnh trong nước................................................. 3 **1.2. Hoàn cảnh quốc tế....................................................... 4
- Những bước đột phá đổi mới kinh tế của Đảng thời kỳ trước đổi mới( 1975- 1986)** ....................................................... 5 2.1. Hội nghị Trung ương VI khóa IV (8/1979) - Bước đột phá thứ nhất....................................................................... 5 2.2. Đại hội V của Đảng (1982) và Hội nghị Trung ương VIII khóa V (6/1985)- Bước đột phá thứ hai...................... 6 2.2.1. Đại hội V của Đảng (1982)..................................... 6 2.2.2. Hội nghị Trung ương VIII khóa V (6/1985)............ 7 2.3. Hội nghị bộ chính trị khóa V ( 8/ 1986) “ Kết luận **đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế”........... 8
- Ý nghĩa** ................................................................................... 11 4. Tổng kết ................................................................................. 11 5. Danh mục tài liệu tham khảo ............................................. 12
- Cuối năm 1978 và cả năm 1979, đồng bằng sông Cửu Long chịu những trận lũ lớn. Diện tích canh tác bị ngập úng tới 5- tháng
- Cơ chế kinh tế mới áp dụng ở miền Nam đã khiến cho nền kinh tế miền Nam nói riêng và cả nước nói chung sa sút.
- Đất nước hoàn toàn giải phóng, cả nước cùng đi lên XHCN. Nền kinh tế ban đầu tăng trưởng chậm, sản xuất công nghiệp lâm vào cảnh trì trệ, suy thoái.
- Sau năm 1975, đất nước còn vô vàn những khó khăn. Đó là: Hậu quả của 30 năm chiến tranh đối với cả nước và chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam phải giải quyết vô cùng nặng nề; miền Nam hậu quả của chiến tranh và chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ Trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; miền Bắc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bị tàn phá nặng nề trong hai cuộc chiến tranh phá hoại năm 1964- và năm 1972; Nền kinh tế quốc dân mất cân đối một cách gay gắt, nhất là cung-cầu lương thực,sản xuất không đủ tiêu dùng. Trong khi đó, Mỹ và các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng nước ta. Nhân dân VN phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây-Nam và biên giới phía Bắc. Các nước XHCN gặp nhiều khó khăn, đã bộc lộ trì trệ, đòi hỏi phải cải cách, cải tổ....
- Sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia (1978), Mỹ và các nước phương Tây áp đặt cấm vận kinh tế. Việt Nam không thể tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và thị trường của phương Tây, càng làm nền kinh tế thêm khó khăn.
1.2. Hoàn cảnh quốc tế Thuận lợi
- Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, tạo ra sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam. Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế thể hiện sự đoàn kết và ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Cuộc CM khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Đây là nguồn lực mà chúng ta có thể tranh thủ để vận dụng vào phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Khó khăn
- Từ những năm 1980 hệ thống các nước XHCN đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng
- Chủ nghĩa Đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ đã chuyển sang thực hiện âm mưu mới chống phá Cách Mạng. 2. Những bước đột phá đổi mới kinh tế của Đảng thời kỳ trước đổi mới( 1975 - 1986) 2.1. Hội nghị Trung ương VI khóa IV (8/1979) - Bước đột phá thứ nhất Hoàn cảnh
- Sau chiến tranh, chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mô hình hợp tác xã nông nghiệp và cơ chế bao cấp đã bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng trì trệ trong sản xuất, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về lương thực. Mục tiêu
- Đại hội V của Đảng họp từ ngày 27 đến ngày 31/3/ trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có một số mặt thuận lợi, nhưng nhiều khó khăn, thách thức
- Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách bao vây cấm vận và “kế hoạch hậu chiến”. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế ra sức tuyên truyền xuyên tạc việc quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, gây sức ép với Việt Nam, chia rẽ ba nước Đông Dương.
- Trong nước, tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng.
- Hội nghị Bộ Chính trị khóa V ( 8-1986) đưa ra “ Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế” đây chính là bước đột phá thứ ba về đổi mới kinh tế, đồng thời cũng là bước quyết định lựa chọn ra đời của đường lối đổi mới của Đảng.
- Nội dung
- Về cơ sở sản xuất
- Tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu.
- Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, việc phát triển công nghiệp nặng phải có lựa chọn cả về quy mô và nhịp độ, chú trọng quy mô vừa và nhỏ, phát huy hiệu quả nhanh nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu.
- Thực hiện cho được ba chương trình quan trọng nhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng hàng xuất khẩu. Về cải tạo xã hội chủ nghĩa
- Phải biết lựa chọn bước đi và hình thức thích hợp trên quy mô cả nước cũng như từng vùng, từng lĩnh vực.
- Phải nhận thức đúng đắn đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Cải tạo xã hội chủ nghĩa không chỉ là sự thay đổi chế độ sở hữu, mà còn thay đổi cả chế độ quản lý, chế độ phân phối. Về cơ chế quản lý kinh tế bị
- Đổi mới kế hoạch hóa theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ đạo của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời sử dụng đúng đắn các quy luật của quan hệ hàng hóa- tiền tệ.
- Làm cho các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh
- Phân biệt chức năng quản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế
- Phân công, phân cấp đảm bảo các quyền tập trung thống nhất của Trung ương trong những khâu then chốt, quyền chủ động của địa phương trên địa bàn lãnh thổ, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở. 2.2.2. Hội nghị Trung ương VIII khóa V (6/1985) Hoàn cảnh
- Được diễn ra trong một hoàn cảnh khá thuận lợi khi sau hai Hội nghị TW lần thứ 6(07/1984) và 7(12/1984) nhưng những giải pháp được đề ra lại chưa đủ sức giải quyết hết những khó khăn trước mắt và những khó khăn tiềm tàng sau đó. Để rồi “sản xuất có bung ra nhưng chưa đúng hướng; hàng lậu, hàng giả tràn lan; giá cả tăng cao khó kiểm soát” ⇒ Hội nghị TW 8 diễn ra
- Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN trên cơ sở kế hoạch hóa. 2.3. Hội nghị bộ chính trị khóa V ( 8/ 1986) “ Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế” Hoàn cảnh
- Đại hội diễn ra trong tình hình thế giới và trong nước có một số mặt thuận lợi, nhưng nhiều khó khăn, thách thức
- Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách bao vây cấm vận và “kế hoạch hậu chiến”
- CN đế quốc và các thế lực phản động quốc tế ra sức tuyên truyền xuyên tạc việc quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, gây sức ép với Việt Nam, chia rẽ 3 nước Đông Dương
- Trong nước, tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội ngày càng trầm trọng
- Hội nghị Bộ Chính trị khóa V ( 8-1986) đưa ra “ Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế” đây chính là bước đột phá thứ ba về đổi mới kinh tế, đồng thời cũng là bước quyết định lựa chọn ra đời của đường lối đổi mới của Đảng. Nội dung -Về cơ cấu sản xuất: +) Một số chủ trương quá lớn về quy mô, quá cao về nhịp độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất là một nguyên nhân quan trọng khiến cho sản xuất trong 5 năm gần đây như dẫm chân tại chỗ, năng suất lao động giảm sút, chi phí sản xuất không ngừng tăng lên, tình hình kinh tế-xã hội ngày càng không ổn định. Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp của tình
trạng chậm giải quyết căn bản các vấn đề về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và tạo nguồn hàng cho xuất khẩu. +) Cần tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn về cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư theo hướng thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, việc phát triển công nghiệp nặng phải có lựa chọn cả về quy mô và nhịp độ, chú trọng quy mô vừa và nhỏ, phát huy hiệu quả nhanh nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu.Cần tập trung lực lượng, trước hết là vốn và vật tư, thực hiện cho được ba chương trình quan trọng nhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuất khẩu. -Về cải tạo xã hội chủ nghĩa: +) Hội nghị cho rằng, do chưa nắm vững quy luật đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã phạm nhiều khuyết điểm trong cải tạo xã hội chủ nghĩa. +) Bởi vậy, phải biết lựa chọn bước đi và hình thức thích hợp trên quy mô cả nước cũng như từng vùng, từng lĩnh vực, phải đi qua những bước trung gian, quá độ từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến trung bình, rồi tiến lên quy mô lớn; phải nhận thức đúng đắn đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, đó là sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việc làm cho người lao động, phải sử dụng
- Những chính sách, chủ trương Đảng đề ra là những giải pháp mang tính tìnhthế nhằm tháo gỡ những khó khăn trước mắt. Mặc dù bước đầu đã đem lại nhiều kết quả tích cực song chưa vững chắc.
- Đồng thời cũng đã nêu lên được những chủ trương, chỉ đạo trong việc giảiquyết ba vấn đề lớn: về cơ cấu nền kinh tế, về cải tạo XHCN và về cơ chế quản lý kinh tế. 4. Tổng kết
- Giai đoạn 1975-1986, Việt Nam gặp nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội do hậu quả chiến tranh, mô hình quản lý bao cấp trì trệ và cấm vận quốc tế.
- Bước đột phá đầu tiên (1979) với Chỉ thị 100 mở rộng khoán sản phẩm trong nông nghiệp, giúp sản xuất bung ra, khuyến khích nông dân tăng năng suất. Đồng thời, Quyết định 25-CP và 26-CP mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh và cải cách tiền lương.
- Bước đột phá thứ hai (1982-1985) tập trung vào phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu; đổi mới quản lý kinh tế, tăng quyền tự chủ cho đơn vị sản xuất. Hội nghị Trung ương VIII (1985) xóa bỏ bao cấp trong giá – lương – tiền, tạo tiền đề cho nền kinh tế hạch toán, kinh doanh XHCN.
- Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (tháng 9-1985) là một bước đột phá quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam. Hội nghị này đã đề ra chủ
trương xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
- Những đổi mới này giúp tháo gỡ khó khăn trước mắt, tạo nền móng cho Đổi mới toàn diện từ năm 1986, đưa Việt Nam vào giai đoạn phát triển mới. 5. Danh mục tài liệu tham khảo Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (1979). Nghị quyết Hội nghị Trung ương VI khóa IV về cải cách kinh tế. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (1982). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (1985). Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII khóa V về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (1986). Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị khóa V về đổi mới tư duy kinh tế. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.