




Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
123456789 Vấn đề nợ công như thế nào
Typology: Exercises
1 / 8
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!





Xem xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước muốn chi hoặc bắt buộc phải chi vượt qua khả năng thu (như các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn và điều đó sẽ tạo ra nợ công. Vì vậy, nghiên cứu kỹ lưỡng về nợ công phải xuất phát từ quan điểm Nhà nước phải vay như thế nào. Trong lĩnh vực tài chính công, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của ngân sách nhà nước đã được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và vẫn được ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các nước hiện nay đó là nguyên tắc lập ngân sách thăng bằng. Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là ngân sách mà chi tiêu bằng thu. Xét riêng về khía cạnh của kinh tế, điều này giúp Nhà nước tiết kiệm được những các khoản chi tiêu lãng phí, nhưng xét về khía cạnh của chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế tình trạng lạm thu thông qua việc quyết định các loại thuế hiện hành. Các khu kinh tế cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B. là những người đề xuất và ủng hộ nguyên tắc này trong lĩnh vực tài chính công. Và do đó, các nhà kinh tế cổ điển không đồng tình rằng Nhà nước có thể đi vay để nhằm mục đích chi tiêu. Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, nhà kinh tế học được coi là người có ảnh hưởng nhất trong nửa đầu thế kỷ XX là John M. Keynes (1883-1946) và những người ủng hộ ông (được gọi là Keynes) đưa ra lập luận rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến đầu tư tư nhân giảm, Nhà nước cần ổn định đầu tư bằng cách đi vay tiền (tức là cố tình tạo thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công như cầu đường, trường học cho đến khi nền kinh tế ổn định trở lại. lại đầu tư. Lý thuyết của Keynes (với những sửa đổi nhất định từ sự đóng góp và phản đối của một số nhà kinh tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) đã được hầu hết các chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và trì trệ của nền kinh tế. Trái ngược với Keynes, Milton Friedman lập luận rằng việc sử dụng chính sách tài khóa để tăng nhu cầu và việc làm sẽ không hiệu quả và có khả năng dẫn đến lạm phát trong thời kỳ suy thoái vì mọi người thường tiêu tiền dựa trên kỳ vọng. thu nhập thường xuyên, không phải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễ nhất định. Thay vì thực hiện chính sách tài khóa thâm hụt, Nhà nước nên thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả. Và Paul Samuelson đã bổ sung quan trọng vào quan niệm của Keynes về chính sách tài khóa. Ông cho rằng, để kích thích dòng tiền kinh tế vượt qua trì trệ, cần thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ linh hoạt. Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc cân đối ngân sách, nhưng khái niệm cân đối không còn được hiểu một cách cứng nhắc như cách hiểu của các nhà kinh tế học cổ điển mà đã linh hoạt hơn. Ví dụ, theo pháp luật Việt Nam, chi thường xuyên không được vượt quá thu từ thuế, phí và lệ phí; nguồn thu từ nợ chỉ phục vụ mục đích phát triển. Hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường đều có hoạt động vay nợ. Việc vay nợ của Nhà nước thường được thực hiện theo quan điểm của Keynes, nhưng có hai điều
đối nên về bản chất, nợ công của địa phương được Chính phủ bảo lãnh. thanh toán thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương.
giảm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 đến nay; ii) Bội chi ngân sách và nợ công lớn và có xu hướng tăng nhanh; iii) Lạm phát cao và khó kiểm soát; iv) Cơ cấu nợ công nước ngoài tăng mạnh trong khi tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên tổng nợ ngắn hạn giảm mạnh; v) Nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất lớn nhưng chưa được đưa vào cơ cấu nợ công; vi) Việt Nam đang bị áp lực không được vay các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp (như ODA) mà phải vay các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn và thời gian vay ngắn hơn. Những yếu tố này khiến nợ công Việt Nam có nguy cơ rơi vào vùng rủi ro cao, nhất là khi nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên, vốn thâm dụng lao động, vốn và năng lượng. năng suất lao động thấp. Đến nay, nợ công của Việt Nam đã vượt ngưỡng an toàn. Trong vài năm tới, nó có khả năng tiếp tục tăng cao và trở nên thiếu bền vững. Nhìn vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ nay đến năm 2020, có thể thấy, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục phải vay nợ để bù đắp phần thiếu hụt trong đầu tư, bởi tỷ lệ tiết kiệm nội địa hiện nay của Việt Nam là chỉ khoảng 27% GDP, trong khi yêu cầu đầu tư toàn xã hội hàng năm là 42% GDP. Tính không bền vững của nợ công trong thời gian tới có thể do các yếu tố sau: Thứ nhất, Nhà nước tiếp tục đầu tư mạnh để xây dựng các công trình hạ tầng hiện đại, quan trọng như dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam (ước tính 56 tỷ USD), dự án xây dựng cơ bản (ước tính 56 tỷ USD). 60 tỷ USD), nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận (hơn 10 tỷ USD)..., trong đó nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách nhà nước và nợ công. Điều này sẽ khiến nợ công, nhất là nợ nước ngoài của Việt Nam tăng nhanh trong thời gian tới. Thứ hai, nợ công phụ thuộc vào cân đối ngân sách và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện cần thiết để tăng thu và đạt thặng dư ngân sách. Tuy nhiên, nếu mô hình kinh tế Việt Nam không có sự đổi mới, tiếp tục dựa vào yếu tố vốn và thâm dụng lao động thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới sẽ giảm, kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm theo. tăng thâm hụt ngân sách và nợ công. Thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay cho thấy, việc đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam đang gặp rất nhiều vấn đề, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công ích. Theo dự báo năm 2011 của Economist Intelligence Unit (EIU), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam sẽ chỉ ở mức trung bình 7,4% vào năm 2015, giảm khoảng 5% sau năm 2020 và chỉ khoảng 3-4% sau năm 2030. Theo đánh giá của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn là 7%/năm. 2011 - 2020, nếu bội chi ngân sách nhà nước vẫn ở mức bình quân 5,6% GDP/năm như giai đoạn 2006 - 2010, nợ công của Việt Nam (không kể nợ của doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh) sẽ vào khoảng 70,8% GDP năm 2020; 75,5% GDP vào năm 2025 và 78,1% GDP vào năm 2030. Với mức dự báo nợ công như trên, khả năng Việt Nam vỡ nợ là khá cao.
Thứ ba, nợ công của Việt Nam trong thời gian tới phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng nợ công của Việt Nam hiện nay rất cao, do chưa tính đến các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh nên không xác định được chính xác nợ công là bao nhiêu, nên không được biết đến. ngưỡng nguy hiểm của hệ thống tài chính quốc gia.