Vấn đề nợ công 123456789, Exercises of Government & Non-Profit Accounting

123456789 Vấn đề nợ công như thế nào

Typology: Exercises

2021/2022

Uploaded on 10/06/2023

djang-quang-ha
djang-quang-ha 🇻🇳

1 document

1 / 8

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
I. SỞ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NỢ CÔNG
1. Khái niệm nợ công
Khái niệm nợ công một khái niệm khá phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết các cách tiếp
cận hiện nay đều cho rằng nợ công khoản nợ chính phủ của một quốc gia
trách nhiệm chi trả khoản nợ đó. vậy, nợ công thường được sử dụng với nghĩa
tương tự như các thuật ngữ như nợ của nhà nước hoặc nợ của chính phủ. Tuy nhiên,
nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia tổng số nợ phải trả của một
quốc gia, bao gồm hai phần nợ của Nhà nước nợ của khu vực nhân (doanh
nghiệp, tổ chức, nhân). Như vậy, nợ công chỉ một bộ phận của nợ quốc gia.
Theo Ngân hàng Thế giới, nợ công nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể gồm: nợ của
Chính phủ Trung ương các bộ, ban, ngành Trung ương; nợ của các cấp chính quyền
địa phương; nợ của Ngân hàng Trung ương, nợ của các tổ chức độc lập Chính
phủ sở hữu trên 50% nguồn vốn, hay các quyết định ngân sách phải được Chính phủ
phê duyệt hoặc Chính phủ chịu trách nhiệm trả nợ trong sự kiện vỡ nợ.” Định nghĩa
này tương tự như định nghĩa của Hệ thống quản nợ phân tích tài chính của Hội
nghị Liên hợp quốc về Thương mại Phát triển (United Nations Conference on
Trade and Development).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công bao gồm 3 nhóm: nợ của chính phủ,
nợ được chính phủ bảo lãnh nợ của chính quyền địa phương. Nợ của Chính phủ
khoản nợ phát sinh từ các khoản đi vay trong ngoài nước do Nhà nước ký, phát
hành nhân danh Chính phủ hoặc các khoản đi vay khác do Bộ Tài chính ký, phát hành
hoặc ủy quyền phát hành theo quy định pháp luật. Nợ Chính phủ không gồm nợ do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành để thực thi chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh nợ của các doanh nghiệp, các tổ chức tài
chính, khoản đi vay trong ngoài nước được Chính phủ bảo lãnh. Nợ của chính
quyền địa phương khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (gọi chung Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành hoặc ủy quyền.
Như vậy, khái niệm nợ công theo thông lệ quốc tế rộng hơn so với theo luật pháp Việt
Nam. Khái niệm này cũng được thừa nhận bởi nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực
chính sách công.
2. Bản chất kinh tế của nợ công
Việc xem xét, nghiên cứu để làm các bản chất các quan điểm kinh tế về nợ công
sẽ giúp ích cho các nhà lập pháp xây dựng nên các quy định pháp luật phù hợp với
tình hình kinh tế - hội nhằm đạt được hiệu quả quản lý, sử dụng nợ công Việt
Nam.
pf3
pf4
pf5
pf8

Partial preview of the text

Download Vấn đề nợ công 123456789 and more Exercises Government & Non-Profit Accounting in PDF only on Docsity!

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NỢ CÔNG

  1. Khái niệm nợ công Khái niệm nợ công là một khái niệm khá phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết các cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng nợ công là khoản nợ mà chính phủ của một quốc gia có trách nhiệm chi trả khoản nợ đó. Vì vậy, nợ công thường được sử dụng với nghĩa tương tự như các thuật ngữ như nợ của nhà nước hoặc nợ của chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là tổng số nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai phần là nợ của Nhà nước và nợ của khu vực tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia. Theo Ngân hàng Thế giới, nợ công là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể gồm: nợ của Chính phủ Trung ương và các bộ, ban, ngành Trung ương; nợ của các cấp chính quyền địa phương; nợ của Ngân hàng Trung ương, và nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% nguồn vốn, hay các quyết định ngân sách phải được Chính phủ phê duyệt hoặc Chính phủ chịu trách nhiệm trả nợ trong sự kiện vỡ nợ.” Định nghĩa này tương tự như định nghĩa của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations Conference on Trade and Development). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công bao gồm 3 nhóm: nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Nợ của Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản đi vay trong và ngoài nước do Nhà nước ký, phát hành nhân danh Chính phủ hoặc các khoản đi vay khác do Bộ Tài chính ký, phát hành hoặc ủy quyền phát hành theo quy định pháp luật. Nợ Chính phủ không gồm nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành để thực thi chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là nợ của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, khoản đi vay trong và ngoài nước được Chính phủ bảo lãnh. Nợ của chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký phát hành hoặc ủy quyền. Như vậy, khái niệm nợ công theo thông lệ quốc tế rộng hơn so với theo luật pháp Việt Nam. Khái niệm này cũng được thừa nhận bởi nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực chính sách công.
  2. Bản chất kinh tế của nợ công Việc xem xét, nghiên cứu để làm rõ các bản chất và các quan điểm kinh tế về nợ công sẽ giúp ích cho các nhà lập pháp xây dựng nên các quy định pháp luật phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội nhằm đạt được hiệu quả quản lý, sử dụng nợ công ở Việt Nam.

Xem xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước muốn chi hoặc bắt buộc phải chi vượt qua khả năng thu (như các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn và điều đó sẽ tạo ra nợ công. Vì vậy, nghiên cứu kỹ lưỡng về nợ công phải xuất phát từ quan điểm Nhà nước phải vay như thế nào. Trong lĩnh vực tài chính công, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của ngân sách nhà nước đã được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và vẫn được ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các nước hiện nay đó là nguyên tắc lập ngân sách thăng bằng. Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là ngân sách mà chi tiêu bằng thu. Xét riêng về khía cạnh của kinh tế, điều này giúp Nhà nước tiết kiệm được những các khoản chi tiêu lãng phí, nhưng xét về khía cạnh của chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế tình trạng lạm thu thông qua việc quyết định các loại thuế hiện hành. Các khu kinh tế cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B. là những người đề xuất và ủng hộ nguyên tắc này trong lĩnh vực tài chính công. Và do đó, các nhà kinh tế cổ điển không đồng tình rằng Nhà nước có thể đi vay để nhằm mục đích chi tiêu. Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, nhà kinh tế học được coi là người có ảnh hưởng nhất trong nửa đầu thế kỷ XX là John M. Keynes (1883-1946) và những người ủng hộ ông (được gọi là Keynes) đưa ra lập luận rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến đầu tư tư nhân giảm, Nhà nước cần ổn định đầu tư bằng cách đi vay tiền (tức là cố tình tạo thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công như cầu đường, trường học cho đến khi nền kinh tế ổn định trở lại. lại đầu tư. Lý thuyết của Keynes (với những sửa đổi nhất định từ sự đóng góp và phản đối của một số nhà kinh tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) đã được hầu hết các chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và trì trệ của nền kinh tế. Trái ngược với Keynes, Milton Friedman lập luận rằng việc sử dụng chính sách tài khóa để tăng nhu cầu và việc làm sẽ không hiệu quả và có khả năng dẫn đến lạm phát trong thời kỳ suy thoái vì mọi người thường tiêu tiền dựa trên kỳ vọng. thu nhập thường xuyên, không phải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễ nhất định. Thay vì thực hiện chính sách tài khóa thâm hụt, Nhà nước nên thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả. Và Paul Samuelson đã bổ sung quan trọng vào quan niệm của Keynes về chính sách tài khóa. Ông cho rằng, để kích thích dòng tiền kinh tế vượt qua trì trệ, cần thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ linh hoạt. Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc cân đối ngân sách, nhưng khái niệm cân đối không còn được hiểu một cách cứng nhắc như cách hiểu của các nhà kinh tế học cổ điển mà đã linh hoạt hơn. Ví dụ, theo pháp luật Việt Nam, chi thường xuyên không được vượt quá thu từ thuế, phí và lệ phí; nguồn thu từ nợ chỉ phục vụ mục đích phát triển. Hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường đều có hoạt động vay nợ. Việc vay nợ của Nhà nước thường được thực hiện theo quan điểm của Keynes, nhưng có hai điều

  1. Phân loại nợ công. Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong quản lý và sử dụng nợ công. Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của các khoản vay, nợ công có hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước là khoản nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam. Nợ nước ngoài là khoản nợ công mà bên cho vay là chính phủ, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là tất cả các khoản nợ công không phải là nợ trong nước. Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ. Sự phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế. Và ở một khía cạnh nào đó, việc quản lý nợ nước ngoài cũng nhằm bảo đảm an toàn tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, do các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc phương tiện thanh toán quốc tế. khác. Theo phương thức huy động vốn, nợ công có hai loại: nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. Nợ công thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công phát sinh từ các thỏa thuận vay trực tiếp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ các hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài. Nợ công từ công cụ nợ là nợ công phát sinh từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có kỳ hạn ngắn hoặc dài, thường ẩn danh và có thể chuyển nhượng trên thị trường tài chính. Theo tính chất ưu đãi của các khoản vay làm phát sinh nợ công, nợ công có 3 loại: nợ công vay từ nguồn vốn ODA, nợ công vay vốn ưu đãi và nợ thương mại thông thường. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ, nợ công được phân thành nợ công phải trả và nợ công có bảo đảm. Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ và chính quyền địa phương có nghĩa vụ phải trả. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho bên vay, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ. Theo mức độ quản lý nợ, nợ công được phân thành nợ công trung ương và nợ công chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương là nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh. Nợ công địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo Luật NSNN 2002, nợ của chính quyền địa phương được coi là một nguồn thu của NSNN và được đưa vào cân

đối nên về bản chất, nợ công của địa phương được Chính phủ bảo lãnh. thanh toán thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương.

  1. Ảnh hưởng của nợ công. Như đã phân tích ở trên, nợ công vừa có tác động tích cực nhưng cũng có một số tác động tiêu cực. Nhận diện những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế tiêu cực là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về quản lý nợ công. Các tác động tích cực chính của nợ công bao gồm: Nợ công làm tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó làm tăng vốn phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kết cấu hạ tầng là nhân tố quyết định. Muốn hạ tầng phát triển nhanh, đồng bộ, đâu là yếu tố quan trọng nhất. Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, qua đó tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Huy động nợ công góp phần tận dụng nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân. Một bộ phận dân cư trong xã hội có tiền tiết kiệm, thông qua Nhà nước đi vay nợ, các khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công và khu vực tư nhân. Nợ công sẽ tranh thủ hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đối với các nước nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương. Nếu biết tận dụng tốt các cơ hội này, Việt Nam sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích của đất nước, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền. chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định. Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản viện trợ không hoàn lại của nước ngoài. Nếu buông lỏng kỷ luật tài chính của Nhà nước, nợ công sẽ kém hiệu quả, tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu không có cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công.
  2. Giới hạn nợ công ở Việt Nam Hiện nay, theo khuyến nghị của một số chuyên gia kinh tế và kinh nghiệm của một số nước, nợ công của Việt Nam vẫn ở dưới giới hạn an toàn là 60% GDP. Tuy nhiên, tình hình nợ công có xu hướng gia tăng, nhất là nợ nước ngoài do chính sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng, huy động vốn trong nước khó khăn khiến Chính phủ lo ngại. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng Việt Nam đang cần vốn để thực hiện công nghiệp hóa, hiện

giảm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 đến nay; ii) Bội chi ngân sách và nợ công lớn và có xu hướng tăng nhanh; iii) Lạm phát cao và khó kiểm soát; iv) Cơ cấu nợ công nước ngoài tăng mạnh trong khi tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên tổng nợ ngắn hạn giảm mạnh; v) Nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất lớn nhưng chưa được đưa vào cơ cấu nợ công; vi) Việt Nam đang bị áp lực không được vay các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp (như ODA) mà phải vay các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn và thời gian vay ngắn hơn. Những yếu tố này khiến nợ công Việt Nam có nguy cơ rơi vào vùng rủi ro cao, nhất là khi nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên, vốn thâm dụng lao động, vốn và năng lượng. năng suất lao động thấp. Đến nay, nợ công của Việt Nam đã vượt ngưỡng an toàn. Trong vài năm tới, nó có khả năng tiếp tục tăng cao và trở nên thiếu bền vững. Nhìn vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ nay đến năm 2020, có thể thấy, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục phải vay nợ để bù đắp phần thiếu hụt trong đầu tư, bởi tỷ lệ tiết kiệm nội địa hiện nay của Việt Nam là chỉ khoảng 27% GDP, trong khi yêu cầu đầu tư toàn xã hội hàng năm là 42% GDP. Tính không bền vững của nợ công trong thời gian tới có thể do các yếu tố sau: Thứ nhất, Nhà nước tiếp tục đầu tư mạnh để xây dựng các công trình hạ tầng hiện đại, quan trọng như dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam (ước tính 56 tỷ USD), dự án xây dựng cơ bản (ước tính 56 tỷ USD). 60 tỷ USD), nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận (hơn 10 tỷ USD)..., trong đó nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách nhà nước và nợ công. Điều này sẽ khiến nợ công, nhất là nợ nước ngoài của Việt Nam tăng nhanh trong thời gian tới. Thứ hai, nợ công phụ thuộc vào cân đối ngân sách và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện cần thiết để tăng thu và đạt thặng dư ngân sách. Tuy nhiên, nếu mô hình kinh tế Việt Nam không có sự đổi mới, tiếp tục dựa vào yếu tố vốn và thâm dụng lao động thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới sẽ giảm, kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm theo. tăng thâm hụt ngân sách và nợ công. Thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay cho thấy, việc đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam đang gặp rất nhiều vấn đề, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công ích. Theo dự báo năm 2011 của Economist Intelligence Unit (EIU), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam sẽ chỉ ở mức trung bình 7,4% vào năm 2015, giảm khoảng 5% sau năm 2020 và chỉ khoảng 3-4% sau năm 2030. Theo đánh giá của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn là 7%/năm. 2011 - 2020, nếu bội chi ngân sách nhà nước vẫn ở mức bình quân 5,6% GDP/năm như giai đoạn 2006 - 2010, nợ công của Việt Nam (không kể nợ của doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh) sẽ vào khoảng 70,8% GDP năm 2020; 75,5% GDP vào năm 2025 và 78,1% GDP vào năm 2030. Với mức dự báo nợ công như trên, khả năng Việt Nam vỡ nợ là khá cao.

Thứ ba, nợ công của Việt Nam trong thời gian tới phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng nợ công của Việt Nam hiện nay rất cao, do chưa tính đến các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh nên không xác định được chính xác nợ công là bao nhiêu, nên không được biết đến. ngưỡng nguy hiểm của hệ thống tài chính quốc gia.