Write a title that summarizes your document to, Slides of Solid State Physics

Describe the content in depth (e.g. index

Typology: Slides

2023/2024

Uploaded on 03/10/2026

phuong-tran-90
phuong-tran-90 🇸🇬

1 document

1 / 17

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
Kỷ yếu Hội thảo khoa học sinh viên mở rộng. Năm học 2021 - 2022
190
THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐHQGHN VÀ NHỮNG YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG TRONG BỐI CẢNH DỊCH BỆNH COVID-19
THE ACTUAL STATE OF UNIVERSITY OF EDUCATION - HANOI VNU STUDENTS'
PRACTICING AND DEVELOPING SOFT SKILLS AND INFLUENCING FACTORS IN THE
CONTEXT OF THE COVID-19 PANDEMIC
Tóm tắt: Sự biến đổi của bối cảnh xã hội và những tiến
bộ khoa học công nghệ dẫn đến các yêu cầu mới đặt ra
cho thế hệ sinh viên ngày càng nhiều. Ngày nay, đi cùng
với tầm quan trọng của kiến thức chuyên môn thì Kỹ năng
mềm (KNM) cũng một trong những yếu tố không thể
thiếu đối với sinh viên các trường đại học nguồn lực lao
động tương lai của đất nước. KNM đóng một vai trò quan
trọng trong việc tiếp cận với công việc sau khi ra trường
của sinh viên. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá
thực trạng hoạt động rèn luyện và phát triển KNM của
sinh viên trường Đại học Giáo dục ĐHQGHN, đồng
thời từ đó tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
này trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.
Từ khóa: Kỹ năng mềm, ảnh hưởng, sinh viên, trường
Đại học Giáo dục, Covid-19
Abstract: The changes in social background and technical improvement have
presented further novel requirements for university students. Nowadays, along with
the importance of expertise, soft skills are also an indispensable factor for university
students - our country's future human resources. Soft skills play an essential role in
students' job approaching after graduation. The experiment was conducted to
evaluate the actual condition of university of education - Hanoi vnu students while
simultaneously figuring out factors that affect those activities regarding the COVID-
19 epidemic.
Keywords: Soft skills, influence , university students, VNU University of Education,
Covid-19.
I . ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ hiện nay, cùng với
năng lực chuyên môn, kỹ năng mềm (KNM) cũng là một trong những yếu tố không
thể thiếu đối với những người lao động. Vì vậy việc rèn luyện KNM là cần thiết đối
với sinh viên các trường đại học nguồn lực lao động tương lai của đất nước.
Đỗ Thị Minh Tâm
Lớp: QH-2018S-
Quản trị trường học
GVHD:
TS. Mai Quang Huy
pf3
pf4
pf5
pf8
pf9
pfa
pfd
pfe
pff

Partial preview of the text

Download Write a title that summarizes your document to and more Slides Solid State Physics in PDF only on Docsity!

THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CỦA

SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐHQGHN VÀ NHỮNG YẾU

TỐ ẢNH HƯỞNG TRONG BỐI CẢNH DỊCH BỆNH COVID- 19

THE ACTUAL STATE OF UNIVERSITY OF EDUCATION - HANOI VNU STUDENTS' PRACTICING AND DEVELOPING SOFT SKILLS AND INFLUENCING FACTORS IN THE CONTEXT OF THE COVID-19 PANDEMIC Tóm tắt: Sự biến đổi của bối cảnh xã hội và những tiến bộ khoa học công nghệ dẫn đến các yêu cầu mới đặt ra cho thế hệ sinh viên ngày càng nhiều. Ngày nay, đi cùng với tầm quan trọng của kiến thức chuyên môn thì Kỹ năng mềm (KNM) cũng là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với sinh viên các trường đại học – nguồn lực lao động tương lai của đất nước. KNM đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận với công việc sau khi ra trường của sinh viên. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng hoạt động rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN, đồng thời từ đó tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Từ khóa : Kỹ năng mềm, ảnh hưởng, sinh viên, trường Đại học Giáo dục, Covid- 19 Abstract: The changes in social background and technical improvement have presented further novel requirements for university students. Nowadays, along with the importance of expertise, soft skills are also an indispensable factor for university students - our country's future human resources. Soft skills play an essential role in students' job approaching after graduation. The experiment was conducted to evaluate the actual condition of university of education - Hanoi vnu students while simultaneously figuring out factors that affect those activities regarding the COVID- 19 epidemic. Keywords: Soft skills, influence , university students, VNU University of Education, Covid-19. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bối cảnh kinh tế - xã hội và khoa học – công nghệ hiện nay, cùng với năng lực chuyên môn, kỹ năng mềm (KNM) cũng là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với những người lao động. Vì vậy việc rèn luyện KNM là cần thiết đối với sinh viên các trường đại học – nguồn lực lao động tương lai của đất nước. Đỗ Thị Minh Tâm Lớp: QH-2018S- Quản trị trường học GVHD: TS. Mai Quang Huy

Nghiên cứu cho thấy KNM là một nhân tố giúp cho công việc của người lao động được thực hiện một cách hiệu quả bên cạnh những kỹ năng công việc truyền thống hay còn gọi là kỹ năng cứng. Kỹ năng cứng được hiểu là kiến thức hay trình độ chuyên môn, khả năng học vấn, kinh nghiệm và sự thành thạo về chuyên môn; thường xuất hiện trên bản lý lịch. KNM tùy thuộc vào khả năng nắm bắt của mỗi người, được tích góp và hình thành trong cuộc sống hằng ngày. Thực tế cho thấy, người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những KNM họ được trang bị. Chìa khóa dẫn đến thành công thực sự là phải biết kết hợp cả hai kỹ năng cứng và KNM. Trong cuộc sống hiện nay, KNM ngày càng được đánh giá cao. Khi chưa xuất hiện dịch bệnh Covid-19, sinh viên của trường ĐHGD- ĐHQGHN vẫn được giáo dục, rèn luyện và phát triển KNM qua việc học một học phần có tên Kỹ năng mềm, và lồng ghép vào các học phần của một số môn học chuyên môn hoặc một số chương trình ngoại khóa, ngoài ra cũng còn có rất nhiều cơ hội rèn luyện KNM khác như là tham gia các hoạt động ngoại khóa, diễn đàn,…Trong thời gian dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, việc tổ chức dạy học online ở đại học tuy đã giải quyết được việc “Tạm dừng đến trường nhưng không dừng học” nhưng đã có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động giáo dục, rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên. Do vậy nghiên cứu “Thực trạng rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên Trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN và những yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19” là cần thiết để đánh giá được thực trạng rèn luyện, phát triển KNM trong sinh viên của trường, và tìm ra được những yếu tố ảnh hưởng từ đó tìm ra một số giải pháp, định hướng, nhằm rèn luyện, nâng cao trình độ, khả năng thích ứng, yêu cầu đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trong bối cảnh mới. 1) Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên trường ĐHGD-ĐHQGHN đồng thời tìm ra những yếu tố ảnh hưởng, do tác động của dịch bệnh Covid-19 đến hoạt động này, từ đó đề xuất những giải pháp, định hướng, nhằm rèn luyện, nâng cao KNM cho sinh viên trường ĐHGD-ĐHQGHN. 2) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19
  • Phạm vi nghiên cứu: sinh viên trường ĐHGD-ĐHQGHN 3) Câu hỏi nghiên cứu
  • Sinh viên trường Đại học Giáo dục- ĐHQGHN quan tâm và thực hiện hoạt động rèn luyện và phát triển KNM như thế nào?
  • Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên trong bối cảnh dịch Covid-19?

Theo tác giả Tạ Quang Thảo: “KNM là những kỹ năng có liên quan đến việc hòa mình vào, sống hay tương tác với xã hội, cộng đồng, tập thể hoặc tổ chức và hướng đến hiệu quả cao của công việc hay nghề nghiệp” [13]. Nói tóm lại, KNM – Kỹ năng tương tác với con người (Soft Skills – People skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng mà chúng ta dùng để tương tác trong cuộc sống con người. Ví dụ như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình,... Như vậy, có thể hiểu KNM là những biểu hiện cụ thể của năng lực hành vi và trí tuệ mà con người tích lũy được để làm cho mình dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt được hiệu quả. 1.2 Những KNM cần được trang bị cho sinh viên Theo Ban Chấp hành Hội sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh [3] , những kỹ năng cần thiết trang bị cho sinh viên bao gồm các nhóm kỹ năng sau:

  • Nhóm kỹ năng về nhận thức:
  • Kỹ năng tư duy tích cực
  • Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm
  • Kỹ năng xác định mục tiêu
  • Kỹ năng giải quyết vấn đề - ra quyết định….
  • Nhóm kỹ năng về xã hội:
  • Kỹ năng giao tiếp
  • Kỹ năng thuyết trình
  • Kỹ năng làm việc nhóm
  • Kỹ năng thuyết phục, đàm phán
  • Kỹ năng xây dựng và thiết lập mối quan hệ….
  • Nhóm kỹ năng quản lý bản thân:
  • Kỹ năng quản lý thời gian
  • Kỹ năng làm chủ cảm xúc
  • Kỹ năng thích nghi…
  • Nhóm kỹ năng chuyên nghiệp
  • Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc
  • Kỹ năng viết báo cáo và đề xuất
  • Kỹ năng lãnh đạo… Trường ĐHGD – ĐHQGHN đưa ra danh mục các KNM mà sinh viên cần rèn luyện để hình thành trong học phần KNM như sau [10]: TT Tên (nhóm) kỹ năng 1 Sử dụng được các ứng dụng văn phòng M.S.Office cơ bản 2 Sử dụng internet để khai thác thông tin phục vụ học tập, công tác 3 Sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu 4 Tư duy phản biện 5 Tư duy sáng tạo

6 Kỹ năng lãnh đạo 7 Kỹ năng giao tiếp, hợp tác và làm việc nhóm 8 Kỹ năng thuyết trình 9 Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc hiệu quả Sự ra đời của công nghệ thông tin là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của giáo dục. Công nghệ thông tin thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 phát triển mạnh, dịch bệnh Covid 19 khiến mọi người sử dụng CNTT và Internet ngày càng nhiều thì những KNM trong danh mục được đưa ra là cần thiết và thiết thực đối với sinh viên hiện nay. 1.3 Tầm quan trọng và vai trò của KNM Theo tác giả nghiên cứu, KNM có tầm quan trọng và vai trò như sau: Thứ nhất, KNM tạo cho sinh viên có ý chí và tinh thần lạc quan. Tinh thần lạc quan làm cho sinh viên có thái độ tích cực trong mọi tình huống, đó là điều quan trọng để các bạn sinh viên giải quyết tốt vấn đề gặp phải. Thứ hai, KNM tạo cho sinh viên có tinh thần đồng đội và hòa đồng với tập thể. Thứ ba, KNM giúp cho sinh viên giao tiếp hiệu quả. Trong xã hội, quan hệ giữa con người với con người thông qua nhiều hình thức trong đó có quan hệ giao tiếp. Thứ tư, KNM giúp cho sinh viên tự tin hơn trước đám đông. Sự tự tin luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống. Nó có thể mang lại những thành công cho mỗi chúng ta. Thứ năm, KNM giúp cho sinh viên phát triển tốt khả năng tìm kiếm xin việc. Khi tham gia đàm phán và phỏng vấn xin việc, KNM sẽ được nhà tuyển dụng để tâm vì những ứng viên sẽ không thể hiện được ý tưởng nếu họ không trình bày để thuyết phục nhà tuyển dụng hay người nghe. Thứ sáu, KNM giúp sinh viên mài dũa khả năng sáng tạo. Tính sáng tạo và lối suy nghĩ thông minh được đánh giá cao ở bất cứ công việc nào. KNM sẽ trang bị cho sinh viên phương pháp giải quyết công việc sáng tạo và thông minh nhất có thể. Thứ bảy KNM trang bị cho sinh viên cách nhìn tổng quan về mọi vấn đề. Có cái nhìn tổng quan về công việc có nghĩa là có khả năng xác định được các yếu tố dẫn tới thành công. Điều này cũng có nghĩa là nhận ra các nguy cơ tiềm ẩn và thời điểm nó xảy ra. 1.4 Hình thức rèn luyện và phát triển KNM Theo tác giả nghiên cứu, KNM có thể được hình thành thông qua các cách thức sau:

  • Tham gia vào công việc ở lớp ở trường
  • Thông qua các trò chơi, hoạt động ngoại khóa do nhà trường, lớp học tổ chức

Tổng số phiếu điều tra là 100, được chia ngẫu nhiên theo số sinh viên, dựa vào số liệu phân tích được thể hiện ở biểu đồ 1, ta thấy đối tượng nghiên cứu là nam chiếm 49% trên tổng số mẫu điều tra, nữ chiếm 51%.

  • Sinh viên theo năm Biểu đồ 2: Tỷ lệ sinh viên phân chia theo năm
  • Tỷ lệ khảo sát sinh viên tham gia lớp học KNM Biểu đồ 3: Tỷ lệ khảo sát sinh viên tham gia lớp học KNM Khi được hỏi về việc: các bạn đã từng tham gia lớp học KNM hay chưa thì có đến 66% các bạn sinh viên trả lời là Đã tham gia rồi, 34% các bạn trả lời là chưa. Ta có thể thấy số lượng lớn các bạn sinh viên đã từng tham gia các lớp học KNM; chính trong chương trình đào tạo của trường Đại học Giáo dục nói riêng và Đại học Quốc Gia Hà Nội nói chung cũng đã có học phần đào tạo KNM cho sinh viên (được gọi là Kỹ năng bổ trợ). Học phần kỹ năng bổ trợ nhằm mục đích cung cấp và hướng dẫn Tổng số phiếu được phát ra ngẫu nhiên, trong đó sinh viên năm nhất chiếm 12%, năm thứ hai chiếm 6%, năm thứ ba chiếm 16%, năm tư chiếm nhiều nhất 58% trên tổng số 100 phiếu khảo sát.

rèn luyện cho sinh viên những KNM cơ bản cần có trong đời sống học tập và công việc tại môi trường đại học. [4,10] 34% các bạn sinh viên chưa từng tham gia lớp học KNM đến từ nguyên nhân các bạn vẫn chưa nhận thức được rõ những lý thuyết cơ bản về KNM, cũng như chưa nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của KNM đối với cá nhân và đối với xã hội. 2.2 Quan điểm nhận thức của sinh viên về KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 2.2.1 Mức độ hiểu biết của sinh viên về Kỹ năng mềm Biểu đồ 4: Tỷ lệ sinh viên từng tìm hiểu về KNM Theo dữ liệu phân tích ta thấy được có 87% sinh viên đã từng tìm hiểu về Kỹ năng mềm. Trong đó phần lớn là các bạn sinh viên năm tư (chiếm 53%) đã từng tìm hiểu về Kỹ năng mềm, trong khi con số này đối với sinh viên năm nhất lại rất thấp (10%). Điều này cho thấy, khi các bạn học sinh chuyển cấp từ THPT sang Đại học, vốn Kỹ năng mềm hiện có của các bạn vẫn còn rất thấp, hầu như các em học sinh vẫn chưa trang bị cho mình đầy đủ các kỹ năng mềm cần thiết để bắt đầu bước vào cuộc sống Đại học. Trong khi đó, các bạn sinh viên năm tư và năm tư trở lên, đã có thời gian học tập và hoạt động trong môi trường giáo dục đại học nhiều năm, trong quá trình học tập và trải nghiệm môi trường Đại học các bạn đã tự biết trang bị cho bản thân mình những kỹ năng mềm cần thiết để phục vụ cho việc học tập và công việc tương lai sau này. Bên cạnh sự chủ động tìm hiểu và học tập rèn luyện KNM mà các bạn sinh viên có thì vẫn còn tồn tại một số bộ phận sinh viên còn thờ ơ, không quan tâm đến Kỹ năng mềm và việc rèn luyện kỹ năng mềm. Nguyên nhân là do các bạn đánh giá chưa đúng về vai trò của kỹ năng mềm, chưa nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng mềm trong cuộc sống, học tập và công việc nên vấn đề tìm hiểu và rèn luyện còn chưa tích cực, chưa có sự chủ động. Dịch bệnh Covid-19 đem lại một ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động tìm hiểu về kỹ năng mềm của sinh viên, sự bất tiện ở đây chính là các bạn sinh viên có ít cơ hội tiếp xúc với những chuyên gia về kỹ năng mềm, trao đổi, học hỏi và chia sẻ những vấn đề liên quan; ít có cơ hội tìm hiểu những tư liệu, tài liệu bản cứng liên quan đến kỹ năng mềm. Tuy vậy, dịch bệnh Covid- 19 cũng mở ra một phong cách học tập mới, CNTT bao phủ toàn cầu, hầu hết những tư liệu, tài liệu cứng, sách, báo về kỹ năng

2.3 Thực trạng rèn luyện, phát triển KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 2.3.1 Những KNM sinh viên hiện có Mặc dù việc tổ chức hoạt động dạy học trực tuyến nhằm giảm thiểu mục đích lây lan của dịch bệnh Covid-19 vẫn đang được diễn ra nhưng qua khảo sát, ta cũng thấy được những điểm mạnh của sinh viên trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN về KNM. Nhìn vào bảng thống kê ta có thể thấy, điểm mạnh của sinh viên trường Đại học giáo dục là Kỹ năng làm việc nhóm (40% sinh viên tự đánh giá mức Tốt), Kỹ năng giao tiếp (32% sinh viên tự đánh giá mức tốt), Kỹ năng lắng nghe (33% sinh viên tự đánh giá mức Tốt), Kỹ năng xây dựng và thiết lập mối quan hệ (30% sinh viên tự đánh giá mức Tốt),.. ngoài ra thì các bạn sinh viên cũng còn những kỹ năng khác như Kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng nghiên cứu….Điều này cho thấy rằng dù đang bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và hạn chế của việc học tập trực tuyến, nhưng các bạn sinh viên vẫn có ý thức trau dồi, rèn luyện và phát triển KNM cho chính bản thân mình Bên cạnh những điểm mạnh mà sinh viên trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN có thì họ còn thiếu và yếu ở một số KNM sau đây: Một bộ phận sinh viên còn thiếu những kỹ năng cần thiết nhất khi đi làm. Nhìn vào biểu đồ 5, chúng ta thấy những kỹ năng thiết yếu khi đi làm như là: kỹ năng lập

kế hoạch và tổ chức công việc (49% đánh giá mức bình thường, 19% đánh giá chưa tốt); kỹ năng đàm phán (50% đánh giá bình thường, 21% đánh giá chưa tốt) thì sinh viên lại không có nhiều. Như vậy, các bạn sinh viên vẫn cần được trang bị, củng cố và rèn luyện phát triển thêm một số những KNM quan trọng để phục vụ cho công việc tương lai sau này, khi mà các bạn đóng vai trò là nguồn lao động tương lai của đất nước. 2.3.2 Tần suất sử dụng KNM của sinh viên Theo số liệu trên biểu đồ cho thấy được tần suất sử dụng KNM của sinh viên trường Đại học Giáo dục-ĐHQGHN vào trong việc học tập, công việc và cuộc sống; 62% sinh viên được khảo sát sử dụng KNM mọi lúc mọi nơi, 20% sinh viên thỉnh thoảng sử dụng KNM. Mặc dù gặp nhiều hạn chế khi phải học tập trực tuyến do dịch bệnh Covid-19 nhưng các bạn sinh viên vẫn tích cực sử dụng, rèn luyện phát triển KNM. Biểu đồ 6: Tần suất sử dụng KNM của sinh viên 2.3.3 Những hình thức hiệu quả để rèn luyện và phát triển KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 Khi được hỏi về những hình thức dạy và học KNM như thế nào là hiệu quả, đa phần các bạn cho rằng thông qua các hoạt động ngoại khóa, trò chơi do nhà trường tổ chức trực tiếp (55%cho rằng hiệu quả, 22% cho rằng rất hiệu quả); một bộ phận lớn sinh viên cũng cho rằng Tham gia vào nhiều công việc ở trường, lớp theo hình thức trực tiếp (51% cho rằng hiệu quả, 25% cho rằng rất hiệu quả); tham gia các buổi tọa đàm chia sẻ trực tuyến về KNM (55% cho rằng hiệu quả, 22% cho rằng rất hiệu quả)... Trong trường học, ngoài việc học ra thì còn có rất nhiều hoạt động ngoại khóa. Những hoạt động đó là cơ hội giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng. Nhưng không phải sinh viên nào cũng tích cực tham gia các hoạt động đoàn, hội. Ngoài ra, các bạn sinh viên cũng đánh giá rất cao những hình thức học tập rèn luyện KNM khác như là: thông qua sự lồng ghép vào môn học chuyên môn (seminar, đề tài), thông qua các hoạt động tình nguyện xã hội, tham gia các buổi tọa đàm chia sẻ trực tiếp về KNM, …

Với bối cảnh học tập thích ứng với dịch bệnh, các bạn sinh viên đã có sự chủ động tích cực tìm hiểu, tham gia vào những hình thức học tập, rèn luyện và phát triển KNM trực tuyến trên các nền tảng học tập trực tuyến hoặc các nền tảng mạng xã hội. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ sinh viên còn thơ ơ, chưa chủ động tích cực chú ý đến, tham gia vào những hình thức học tập, rèn luyện và phát triển KNM.

3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Dựa trên mô hình nghiên cứu mẫu của Kusterer (2009) [11] về sự phát triển KNM của sinh viên tốt nghiệp, gồm các biến tính cách, cơ sở giáo dục và quan hệ bạn bè của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên theo mô hình sau : Các biến được chia ra thành hai nhóm, mỗi nhóm sẽ gồm những biến độc lập khác nhau. 3.1 Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Nhóm yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM gồm 6 biến độc lập được kiểm tra là mức độ quan tâm đến kỹ năng cứng (môn học chuyên ngành, kiến thức chuyên môn), mức độ quan tâm đến KNM, phân bố thời gian, tính cách, mối quan hệ đồng đẳng và mong muốn học tập rèn luyện KNM. Lý do chọn các biến độc lập này là: (1) Kỹ năng cứng hay kiến thức chuyên môn, chuyên ngành mà sinh viên trang bị trong quá trình học tập tại trường đại học là điều kiện cần, tuy nhiên vẫn chưa phải là điều kiện đủ để làm hành trang cho sinh viên có thể bước ra giảng đường để tìm kiếm những công việc như mong muốn với mức thu nhập phù hợp. Chính vì thế mà yêu cầu đặt ra với sinh viên là bên cạnh việc không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, thì còn phải quan tâm đến việc học tập, rèn luyện và phát triển KNM. (2) Hiện nay, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp nói chung đa phần chưa nhận thức rõ về sự cần thiết của KNM trong quá trình sống và học tập cho đến khi ra trường tìm việc. Từ nhận thức sai về KNM

dẫn đến suy nghĩ rằng KNM không quan trọng và hành động không rèn luyện KNM đã lấy đi nhiều cơ hội đáng lẽ thuộc về các bạn. Khi bạn nhận thức rằng KNM quan trọng với bạn không chỉ trong học tập mà cả trong cuộc sống và môi trường làm việc sau này, bạn sẽ có những suy nghĩ và hành động hướng đến hoàn thiện cho bản thân những kỹ năng cần thiết. Vì vậy mà mức độ quan tâm đến KNM được chọn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM. (3) Thông thường các bạn sinh viên sẽ phân bổ thời gian học tập dành nhiều hơn việc học tập, thực hành các môn học chuyên ngành, kiến thức chuyên môn; thêm vào đó là thời gian cho hoạt động nghỉ ngơi và giải trí; một số bạn còn dành thời gian đi làm thêm,... Phân bổ được thời gian hợp lý để học tập và rèn luyện phát triển KNM cũng là một trong những điều khó khăn đối với các bạn sinh viên.(4) Tính cách của một sinh viên cũng ảnh hưởng đến hoạt động phát triển KNM; một bạn sinh viên có tính cách hướng ngoại thông thường sẽ trang bị cho cá nhân được đầy đủ và nhiều KNM hơn với một bạn sinh viên có tính cách hướng nội. (5) Trung bình thời gian sinh viên dành khoảng 3 đến 4 năm để phát triển KNM của họ. Thông qua khoảng thời gian này, nghiên cứu mong muốn xem mối quan hệ bạn bè đồng lứa có thể ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển KNM của sinh viên. (6) Và yếu tố quan trọng nhất, làm chủ chính bản thân các bạn sinh viên đó chính là mong muốn học tập và rèn luyện phát triển KNM của bản thân các bạn. Chỉ khi các bạn ý thức được tầm quan trọng cũng như vai trò cần thiết của KNM thì chính tự các bạn sẽ chủ động, tích cực học hỏi, rèn luyện phát triển KNM. Biểu đồ 8: Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Khi được khảo sát về những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 thì các bạn sinh viên đều nhất ý cho rằng là: Mức độ quan tâm đến môn chuyên ngành (kỹ năng cứng) (29% rất ảnh hưởng, 52% ảnh hưởng), mức độ quan tâm đến KNM (28% chọn rất ảnh hưởng), mối quan hệ đồng đẳng của sinh viên (32% cho rằng rất ảnh hưởng, 47% cho rằng ảnh hưởng), và cuối cùng là mong muốn học tập, rèn luyện và phát triển KNM của sinh viên (37% cho rằng rất ảnh hưởng, 45% cho rằng ảnh hưởng). 3.2 Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động rèn luyện và phát triển KNM trong bối cảnh dịch bệnh Covid- 19.

IV. KẾT LUẬN (THẢO LUẬN) & KHUYẾN NGHỊ

4.1 Kết luận Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN tự đánh giá bản thân mình sử dụng tốt và rất tốt các kỹ năng: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng xây dựng và thiết lập mối quan hệ. Các bạn sinh viên cũng đã nhận thức được rõ ràng đây là những kỹ năng rất quan trọng phục vụ cho nhu cầu học tập ở đại học. Nhận thức về tầm quan trọng của những kỹ năng trên giúp các bạn sinh viên chủ động hơn trong rèn luyện những kỹ năng đó. Mặc dù trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhưng các bạn sinh viên vẫn tích cực, chủ động tìm hiểu, trau dồi, rèn luyện và phát triển KNM cho chính bản thân mình. Điều đó cho thấy các bạn đã nhận thức được sự đóng góp không nhỏ, tầm quan trọng của những KNM trong cuộc sống, công việc và giúp các bạn đạt được kết quả cao hơn trong việc học tập. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập và rèn luyện phát triển KNM của sinh viên trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN bao gồm 6 yếu tố ảnh hưởng mang tính chủ quan: (1) Mức độ quan tâm đến kỹ năng cứng; (2) mức độ quan tâm đến KNM; (3) phân bổ thời gian của sinh viên; (4) tính cách của sinh viên; (5) mối quan hệ đồng đẳng của sinh viên; (6) mong muốn học tập, rèn luyện KNM của sinh viên và 7 yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan là: (1) Môi trường học tập trực tuyến tại nhà; (2) môi trường học tập trực tiếp tại trường; (3) hoạt động giảng dạy trực tuyến; (4) hoạt động giảng dạy trực tiếp; (5) hoạt động học tập trực truyến (học một mình tại nhà); (6) hoạt động học tập trực tiếp; (7) vấn đề tiền bạc từ đó tìm ra một số khuyến nghị mang tính tham khảo. 4.2 Khuyến nghị 4.2.1 Đối với sinh viên

  • Chủ động tích cực tìm hiểu tham gia học tập, rèn luyện phát triển KNM dưới mọi hình thức.
  • Phân bổ thời gian hợp lý, ngoài thời gian dành cho các kiến thức chuyên môn thì cần dành thời gian cho việc học tập và rèn luyện phát triển KNM.
  • Năng động, tích cực và chủ động trong mọi công việc ở lớp, ở trường, ở quanh môi trường mình sinh sống… 4.2.2 Đối với nhà trường
  • Tăng cường sử dụng nhiều phương pháp/ cách thức lồng ghép KNM trong bài giảng của các môn học chính khóa chuyên ngành.
  • Đoàn trường cần tiếp tục đẩy mạnh tổ chức nhiều các hoạt động trực tiếp song song với trực tuyến cho sinh viên có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp… nâng cao KNM. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1] Forland - Jeremy (2006). Managing Teams and Technology. UC Davis, Graduate School of Management [2] Nancy J. Pattrick (2008). Social skills for teenagers and adults with esperger syndrome. Jessica Kingsley Publisher. [3] Thông báo số 34 Ban chấp hành Hội sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh [4] Đại học Quốc gia Hà Nội (2010). Hướng dẫn số 3109/HD-ĐHQGHN ngày 29/10/2010 về Xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra ở Đại học Quốc gia Hà Nội. [5] Nguyễn Thanh Bình (2011), Giáo trình chuyên đề Giáo dục kĩ năng sống , NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội [6] Nguyễn Thị Kiều Nga - Huỳnh Thanh Vũ (2019), “Thực trạng và giải pháp rèn luyện KNM cho sinh viên Trường Cao đẳng Giao thông vận tải trung ương V”, Tạp chí Giáo dục , số 456, trang 15-. [7] Trần Thanh Mai (2019), “Những yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập KNM của sinh viên trong môi trường đại học”, [8] Phạm Thị Lan Hương, Lê Thị Thương (2011), “Sinh viên với “KNM”: nhận thức, mong muốn và các yếu tố tác động đến việc học “KNM” của sinh viên hiện nay”, [9] Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Bùi Ngọc Thoa (2018), “Thực trạng và nhu cầu đào tạo KNM của sinh viên khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Lâm nghiệp”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Lâm nghiệp số 6- 2018 [10] Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN (2019), Hướng dẫn số 1987/HD- ĐHGD ban hành ngày 11/11/2019 về việc Hướng dẫn thực hiện học phần Kỹ năng bổ trợ theo hình thức tích hợp trong hoạt động trải nghiệm và dự án của trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN [11] Kusterer, K.D. (2009), Impact of parenting styles on academic achievement: Parenting styles, parental involvement, personality factors and peer orientation (Doctorial Dissertation) [12] Huỳnh Văn Sơn (2012), Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên Đại học Sư phạm , Chủ biên, NXB Giáo dục [13] Tạ Quang Thảo (2014), “Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, số 329-2014, trang 1.