Understanding Logistics: Definition, Role, and Importance, Essays (university) of Logistics

An in-depth analysis of logistics, its definition, role, and importance in various industries. Logistics is a complex process that involves managing the flow of goods and information from the point of origin to the point of consumption. It includes activities such as procurement, production, inventory management, transportation, warehousing, and customer service. This document also discusses the benefits of logistics in terms of competition and value creation. Logistics plays a crucial role in ensuring that businesses meet customer demands efficiently and effectively, while minimizing costs and maximizing profits.

Typology: Essays (university)

2020/2021

Uploaded on 07/27/2021

khanh-chu
khanh-chu 🇻🇳

1 document

1 / 10

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ LỢI THẾ CẠNH
TRANH:
1.Cơ sở lý luận về logistics:
a.Khái niệm và vai trò của logistics:
*Khái niệm:
Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch
nhất, giống như từ “Marketing” , từ tiếng Anh sang tiếng Việt
và thậm chí cả những ngôn ngữ khác. Bơit vì bao hàm nghĩa
của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể
truyền tải hết được ý nghĩa của nó.
Logistics có thể được hiểu như là việc có được đúng số
lượng cần thiết ở đúng thời điểm và với chi phí phù hợp. Nó
là nghệ thuật, là môptj quá trình khoa học. Nó phối hợp tất cả
các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, quản lý vòng đời dự án,
chuỗi cung cấp và hiệu quả.
Logistics có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự
trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển
của các đoàn quân từ căn cứ ra tiền tuyến. Trong thời kỳ Hy
Lạp cổ đại, đế chế Roma và Byzantine, đã có những sĩ quan
với mác “logistikas” là người chịu trách nhiệm đến các vấn đề
về tài chính cũng như cung cấp phân phối. Trong quân sự,
logistics được các chuyên gia quản lý để làm thế nào và khi
nào di chuyển các nguồn lực đến các địa điểm mà họ cần.
Trong khoa học quân sự thì việc duy trì cung cấp trong khi
làm gián đoạn sự cung cấp của kẻ địch là một nhân tố tối quan
trọng trong chiến lược quân sự. Nếu làm được như vậy thì
quân địch không có gì đáng sợ.
Logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh bắt
nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng
pf3
pf4
pf5
pf8
pf9
pfa

Partial preview of the text

Download Understanding Logistics: Definition, Role, and Importance and more Essays (university) Logistics in PDF only on Docsity!

I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ LỢI THẾ CẠNH

TRANH:

1.Cơ sở lý luận về logistics: a.Khái niệm và vai trò của logistics: *Khái niệm: Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing” , từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữ khác. Bơit vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tải hết được ý nghĩa của nó. Logistics có thể được hiểu như là việc có được đúng số lượng cần thiết ở đúng thời điểm và với chi phí phù hợp. Nó là nghệ thuật, là môptj quá trình khoa học. Nó phối hợp tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, quản lý vòng đời dự án, chuỗi cung cấp và hiệu quả. Logistics có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quân từ căn cứ ra tiền tuyến. Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đế chế Roma và Byzantine, đã có những sĩ quan với mác “logistikas” là người chịu trách nhiệm đến các vấn đề về tài chính cũng như cung cấp phân phối. Trong quân sự, logistics được các chuyên gia quản lý để làm thế nào và khi nào di chuyển các nguồn lực đến các địa điểm mà họ cần. Trong khoa học quân sự thì việc duy trì cung cấp trong khi làm gián đoạn sự cung cấp của kẻ địch là một nhân tố tối quan trọng trong chiến lược quân sự. Nếu làm được như vậy thì quân địch không có gì đáng sợ. Logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng

trong việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới toàn cầu hoá đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này. Trong kinh doanh, logistics có thể hiểu như việc tấp trung cả nội lực lẫn ngoại lực bao hàm cả quá trình chu chuyển từ “nhà sản xuất gốc” đến “người tiêu dùng cuối cùng”. Chức năng chính của logistic bao gồm việc quản lý việc mua bán, vận chuyển, lưu kho cùng với các hoạt động về tổ chức cũng như lấp kế hoạch cho các hoạt động đó. Người quản lý logistics kết hợp kiến thức tổng hợp của mỗi chức năng từ đó phối hợp các nguồn lực trong tổ chức để vận hành. Có hai khác biệt cơ bản của logistics. Một thì đánh giá một cách lạc quan, đơn giản coi đó như là sự chu chuyển ổn định của nguyên liệu trong mạng lưới vận chuyển và lưu trữ. Một thì coi đó là một sự kết hợp các nguồn lực để tiến hành quá trình. Trong quá trình sản xuất, thuật ngữ này ám chỉ quá trình logistics trong các ngành công nghiệp. Mục đích của nó là đảm bảo mỗi một máy mọc thiết bị hay trạm làm việc được “nạp” đủ sản phẩm với đúng số lượng, chất lượng và đúng lúc. Vấn đề như vậy không chỉ là liên quan đến việc vận chuyển, mà còn là phân luồng và điều chỉnh các kênh xuyên suốt quá trình gia tăng giá trị và xoá bỏ những giá trị không gia tăng. Logistics trong quá trình sản xuất được áp dụng cho cả những nhà máy đang tồn tại hoặc mới được thành lập. Sản xuất chế tạo là một nhà máy với quá trình thay đổi ổn định. Máy móc được thay đổi và thay mới. Theo đó sẽ là cơ hội cải thiện hệ thống logistics trong sản xuất. Ngược lại, logistics sẽ cung cấp các “phương tiện’ cho việc đạt được hiệu quả mong muốn của khách hàng và hiệu quả trong sử dụng vốn. Hiện nay, có một số khái niệm chủ yếu được sử dụng nhiều sau đây:

hàng đến các đại lý… Chính vì vậy, nói tới logistics bao giờ người ta cũng nói tơí một chuỗi hệ thống dịch vụ. Với hệ thống chuỗi dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ logistics sẽ giúp khách hàngcos thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phát hàng hoá. *Vai trò:  Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC-Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế. Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ,đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp.  Logistics tạo ra sự hưũ dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia về thương mại chỉ đúng hàng thứ 2 so với hoạt đọng của các doanh nghiệp, ví dụ như thị trường tam giác bao gồm 3 khu vực địa lý: Nhật, Mỹ-Canada và EU. Trong thị trường tam giác này, các công ty trở nên quan trọng hơn quốc gia vì quyền lực kinh tế của họ đã vượt quá biên giới quốc gia, quốc tịch của công ty đã trở nên mờ nhạt. Ví dụ như hoạt động của Toyota hiện nay, mặc dù phần lớn cổ đong của Toyota là người Nhật và thị trường quan trọng nhất của Toyota là ở Mỹ nhưng phần lớn xe Toyota bán tai Mỹ được sản xuất tại nhà máy của Mỹ thuộc sở hữu của Toyota. Như vậy, quốc tịch của Toyota đã bị mờ đi nhưng đối với thị trường Mỹ thì rõ

ràng Toyota là nhà sản xuất một số loại xe ô tô và xe tải có chất lượng cao.  Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện,… tới sản phẩm cuối cùng tới tay khách hàng sử dụng. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển. Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cũng cao khiến các doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàng tồn kho. Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hoán quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hoá được đặt lên hàng đầu. Và với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, logistics chính là công cụ đắc lực để thực hiện điều đó.  Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh : Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, khi bãi chứa thành phẩm,bán thành phẩm,… Để giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.  Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian-địa điểm (just in time) : Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải giao

  • Dịch vị logistics bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất, tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh.
  • Theo vị trí của các bên tham gia:
    • Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics) là hoạt động logistics do người chủ sở hữu sản phẩm/ hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp.
      • Logistics bên thứ hai (2PL- Second Party Logistics) chỉ hoạt đọng logistics do người cung cấp dịch vụ logistics cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng yêu cầu của chủ hàng.
      • Logistics bên thứ ba (3PL- Third Party Logistics) là người thay mặt chủ cửa hàng tổ chức thực hiện và quản lý các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng.
  • Theo quá trình nghiệp vụ:
    • Hoạt động mua là các hoạt động liên quan đến việc tạo ra các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài. Mục tiêu chung của mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chi phí thấp.
      • Hoạt động hỗ trợ sản xuất tập trung vào hoạt động quản trị dòng dự trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất. Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi “sản xuất như thế nào?” mà là “cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra”.
      • Hoạt động phân phối ra thị trường liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ khách hàng. Mục tiêu cơ bản của phân phối là hỗ trợ tạo ra doanh thu qua việc cung cấp

mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược ở mức chi phí thấp nhất.

  • Theo hướng vận động vật chất:
    • Logistics đầu vào: toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên vật liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức.
      • Logistics đầu ra: toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản phẩm đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức.
    • Logistics ngược: bao gồm các dòng sản phẩm, hàng hoá hư hỏng, kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong kênh logistics.
  • Theo đối tượng hàng hoá: Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sảm phẩm. Do đó các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động logistics không giống nhau. Điều này cho phếp các ngành hàng khác nhau có thể xây dựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hoá hoạt động logistics theo đặc trưng riêng của loại sản phẩm tuỳ vào mức độ chuyên môn hoá, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các đối tượng hàng hoá khác nhau như:
    • Logistics hàng tiêu dùng ngắn ngày
    • Logistics ngành ô tô
    • Logistics ngành hoá chất
    • Logistics ngành dầu khí …… *Mục tiêu: tăng trưởng doanh thu, đảm bảo việc làm và điều kiện viẹc làm, làm hài lòng khách hàng, sự sẵn có sản phẩm, hiệu quả chi phí, khả năng sinh lợi, trách nhiệm xã hội, giao

duy thiết kế mạnh mẽ để tạo ra những ý tưởng sáng tạo. Những cải tiến đối với hàng hóa hoặc dịch vụ có thể bao gồm việc cung cấp chất lượng cao cho khách hàng. Nếu khách hàng thấy một sản phẩm hoặc dịch vụ khác với các sản phẩm khác, người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để nhận được những lợi ích này.