



Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
The environmental challenges faced by the ceramic industry in bat trang, vietnam, particularly in relation to air and water pollution. The study focuses on identifying the sources of pollution, assessing the current environmental situation, and proposing solutions to mitigate the impact on the environment. The document also provides an overview of the ceramic industry in bat trang, its production process, and the associated environmental issues.
Typology: Schemes and Mind Maps
1 / 7
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!




I. Đặt vấn đề Làng nghề - một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn, việc làm cho lượng lớn lao động nông thôn. Đồng thời, nhờ có sự đầu tư, mở rộng quy mô và nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật, các sản phẩm làng nghề không những phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn, đóng góp cho GDP của đất nước. Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Theo con số cuối năm 2008, toàn Hà Nội có 1.264 làng nghề, là nơi tập trung làng nghề đông đúc bậc nhất Việt Nam. Trong số các làng nghề truyền thống tại đây, không thể không kể đến làng nghề gốm sứ Bát Tràng - một làng nghề đặc trưng cho nét cổ xưa tại Hà Nội. Làng Bát Tràng nằm ở huyện Gia Lâm, phía Nam thành phố từ lâu đã nổi tiếng với sản phẩm gồm mang tên chính ngôi làng này. Làng gốm Bát tràng không những chỉ sản xuất ra những sản phẩm gốm sứ nổi tiếng toàn quốc mà còn là một địa điểm du lịch nổi tiếng cho du khách các miền gần xa. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mà phát triển làng nghề mang lại là những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường. Hiện Bát Tràng có khoảng 1.150 lò nung gốm, trong đó 2/3 là lò gas hiện đại, còn lại là lò truyền thống vẫn nung bằng than củi, hằng ngày thải vào không khi một lượng khói bụi rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của người dân. Hầu hết các làng nghề gốm sứ đều sử dụng than củi và than đá nên gây ra ô nhiễm môi trường như: bụi, hơi nước, SO2, CO2, CO, NOx… Để làm rõ hơn ảnh hưởng của việc sản xuất gốm sứ đến môi trường chúng tôi đã chọn đề tài “Ô nhiễm môi trường tại làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Hà Nội’’.
buôn bán sản phẩm.Nghề gốm ở Bát Tràng có lịch sử phát triển gần 600 năm. Đây là trung tâm gốm sứ của cả vùng, không những có doanh thu lớn, quy mô, số lượng mà chất lượng, mẫu mã và loại hình sản phẩm đều được thị trường trong nước và quốc tế ưa thích.Bát Tràng có diện tích tự nhiên 164,03 ha, trong đó 3/4 diện tích nằm ngoài đê, hàng năm vào mùa nước lớn thường bị ngập lụt. Làng nghề Bát Tràng thường gọi là xã Bát Tràng, gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang Cao với 6980 nhân khẩu ở 1450 hộ, trong đó 5.118 nhân khẩu thuộc 1245 hộ tham gia vào ngành nghề gốm sứ.Các cơ sở sản xuất gốm sứ ở Bát Tràng gồm một doanh nghiệp nhà nước, 2 doanh nghiệp quân đội, 2 hợp tác xã, 3 tổ hợp tác, 19 công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân với 1.307 lò nung hợp và 115 lò nung đốt bằng gas, đã sản xuất từ 85 - 100 triệu sản phẩm/năm, trong đó có 50% gốm sứ mỹ nghệ, còn lại là gốm sứ xây dựng và các sản phẩm khác đem lại tổng doanh thu toàn xã năm 2003 khoảng 150 tỷ đồng.
2. Quy trình sản xuất gốm Bát Tràng
Bên cạnh đó là mỗi ngày có hàng chục chiếc xe tải, xe cải tiến chở nguyên vật liệu, gây ra tình trạng khói bụi ô nhiễm. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất gốm sứ những hóa chất dùng để nâng cao chất lượng, bảo quản sản phẩm, để làm chất liệu men, sơn vẽ… đã gây hại trực tiếp tới môi trường không khí ở làng nghề.
2. Ô nhiễm nguồn nước Trong quá trình sản xuất gốm sử lượng nước thải ở các công đoạn: nghiền đất, làm men, tạo hình sản phẩm , rửa bán sản phẩm... rất khó ước tính do chúng phụ thuộc vào các yếu tố thay đổi theo từng thời điểm là quy mô và loại hình sản xuất; cùng với một lượng lớn nước thải sinh hoạt của hộ dân không qua xử lý được đổ trực tiếp vào hệ thống ao, hồ, kênh, mương đã gây ra nhiều vấn để cho các hợp phần môi trường. Chất thải lỏng gây đục nguồn nước, làm giảm cường độ tổng hợp dinh dưỡng của một số loài thủy sinh, gây lắng cặn nền đáy dẫn đến mất dần diện tích sinh sống của nhiều động thực vật. Ô nhiễm nước do các chất thải chứa chất hữu cơ, cặn gây nên mùi hôi thối khó chịu. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, lượng nitơ và phốt pho tảng, gây hiện tượng phú dưỡng và tạo một số loại khí có hại cho sinh vật. Chất lượng nước mặt bị suy giảm sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm, nước giếng khoan - khơi phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân. Nguồn nước mặt tại xã Bát Tràng bị ô nhiễm ở mức độ khác nhau. So với tiêu chuẩn cho phép Coliform cao gấp 3 - 5 lần, oxy hòa tan thấp hơn 3 lần, BOD, và COD cao gấp 2 - 3 lần. Một số chỉ tiêu liên quan đến nước thải sản xuất như hàm lượng cặn, kim loại nặng cũng tương tự: tổng chất rắn hòa tan cao gấp 2- lần, cặn lơ lửng 2 - 5 lần, Crom (III) 1 - 7 lần tiêu chuẩn cho phép. 3. Ô nhiễm đất Hiện trạng môi trường đất ở làng nghề Bát Tràng đang ngày được khắc phục, nhưng hiệu quả chưa cao. Với sự phát triển của làng nghề ngày càng lớn các quy trình sản xuất gốm sứ mang tính chất thủ công có ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái và môi trường đất, làm ảnh hưởng đến các tính chất vật lý và tính chất hóa học của đất. Những ảnh hưởng tác động về vật lý như xói mòn, nén chặt đất, hủy hoại cấu trúc đất và những tổ chức triển khai sinh học của chúng do sử dụng những thiết bị, máy móc nặng, những hoạt động giải trí kiến thiết xây dựng, sản xuất, khai thác … Các loại hóa chất, khí thải của quy trình nung đốt loại sản phẩm gốm sứ bát Tràng được thải trực tiếp hoặc theo nguồn nước thải không được giải quyết và xử lý đã ngấm sâu vào những tầng đất gây tích tụ những sắt kẽm kim loại nặng, những độc chất tác động ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất phân giải chất hữu cơ làm cho đất chai cứng, mất dinh dưỡng làm
đất mất tính năng sản xuất đồng thời làm tăng năng lực hấp thụ những nguyên tố có hại cho cây cối, vật nuôi và từ đó gây hại sức khỏe thể chất con người.
4. Ô nhiễm tiếng ồn, chất thải rắn Hằng ngày, hàng trăm lượt xe cải tiến, xe tải chở nguyên vật liệu và thành phẩm ra vào gây ra tiếng ồn làm ảnh hưởng tới hoạt động sống bình thường của người dân. Trong quá trình sản xuất gốm không chỉ thải ra các khí độc hại mà trung bình mỗi lò nung gốm bằng than còn thải ra khoảng 2,5 tấn chất thải rắn cho mỗi mẻ nung. Cùng với đó, phế phẩm, phế liệu đất nung gốm, sứ vỡ, hỏng chất thành những đống bên đường hoặc có thể chuyên chở đổ ra sông Hồng. 5. Ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Bệnh tật của người dân làng nghề cao hơn ở các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Một số làng nghề có đặc thù sản xuất dẫn tới các bệnh mãn tính nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng, đặc biệt là các làng nghề tái chế nhựa, chì, kim loại, thuộc da... Riêng đối với phụ nữ, ảnh hưởng tới sức khỏe càng rõ rệt như gây rối loạn phụ khoa, đau lưng, đau thần kinh... Đối với trẻ em, tỷ lệ viêm đường hô hấp rất cao, 80 - 90% tại các làng nghề tái chế chất thải. IV. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại làng gốm Bát Tràng Ô nhiễm môi trường là vấn đề không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế và phát triển làng nghề thủ công cũng không phải ngoại lệ. Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm tại làng nghề Bát Tràng hay các làng nghề Việt Nam hiện nay. Thứ nhất, người dân làng nghề với nếp nghĩ của người chủ tiểu nông thường quan tâm tới lợi ích thu được từ sản phẩm mà ít quan tâm tới các tác hại do sản xuất nghề gây nên. Vì vậy họ không chú trọng đến bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Cũng do hoạt động kinh doanh tại làng nghề Bát Tràng là tự phát nên việc thống kê và báo cáo về mức độ gây ô nhiễm tại khu vực làng nghề Bát Tràng là không hề dễ dàng. Do không bị kiểm soát chặt chẽ, nên các cơ sở sản xuất vẫn tiếp tục xả thải trực tiếp ra môi trường. Thứ hai, quy trình sản xuất, gốm sứ gồm nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có các đặc thù riêng và tiềm ẩn khả năng gây ô nhiễm môi trường ở mức độ khác nhau. Nguyên nhiên liệu chính để sản xuất gốm sứ là các loại cao lanh, đất sét và than. Ngoài ra còn có thạch anh, đất làm khuôn, men gốm, tro, các hợp chất như CaO, BaO, MgO,... và một số kim loại quý: Au, Ag,... Nguồn nguyên liệu này khi mua về hầu như không được quản lý, kiểm soát, về số lượng và chất lượng. Khâu vận chuyển, bốc xếp, chế biến là nguyên nhân chính gây ô nhiễm bụi, phóng xạ và hơi dung môi. Máy nghiền nguyên liệu được sử dụng còn quá thô sơ nên phát tán bụi, tiếng ồn lớn. Các lò nung hình hộp, là lò đốt ủ than cám, thiếu hệ thống xử lý nên thải ra các khí độc. Thứ ba, đôi khi những cơ sở sản xuất biết là độc hại nhưng do hạn chế về vốn nên vấn đề bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường ít được trang bị, một số cơ sở không đủ khả năng để lắp đặt những hệ thống xử lý ô nhiễm (nếu có cũng là các hệ thống cũ kỹ, lạc hậu, không xử lý được hoàn toàn các chất ô nhiễm). Thêm vào đó khó khăn trong việc xử lý ô nhiễm do quan hệ sản xuất ở các làng nghề mang tính dòng tộc, hàng xóm láng giềng nên các cấp xử lý, cơ quan chức năng rất khó tiến hành các thủ tục xử phạt hành chính, cưỡng chế. Thứ tư, công tác quản lý môi trường làng nghề còn nhiều bất cập. Làng nghề rất đa dạng về loại hình sản xuất và quy mô phát triển, có những đặc thù riêng so với các ngành công nghiệp, dịch vụ khác. Đến nay, hoàn toàn chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng đối với vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề theo từng đặc thù của nó. Các văn bản hướng dẫn hiện hành đều quy định chung cho tất cả các loại hình sản xuất kinh doanh, do đó để áp dụng được đối với làng nghề nhiều khi không phù hợp hoặc khó áp dụng. Ví dụ như đối với Nghị định 81/2006-NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi
Khuyến khích nghiên cứu và phát triển công nghệ sạch: Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất gốm sứ sạch hơn và hiệu quả năng lượng. Hợp tác quốc tế: Hợp tác với các tổ chức quốc tế và các đối tác kinh doanh để chia sẻ kinh nghiệm và tri thức về quản lý môi trường. Phát triển hệ thống giám sát và đánh giá: Xây dựng hệ thống giám sát liên tục để theo dõi chất lượng môi trường và hiệu suất của các biện pháp giảm ô nhiễm. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng: Tổ chức các hoạt động tương tác với cộng đồng để tăng cường ý thức và sự tham gia trong việc giữ gìn môi trường. Thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững: Khuyến khích sử dụng nguyên liệu và hợp chất thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất gốm sứ.