philosophical documents, Schemes and Mind Maps of Law

theme of consciousness and humanity

Typology: Schemes and Mind Maps

2022/2023

Uploaded on 01/22/2024

truc-thanh-hoang
truc-thanh-hoang 🇻🇳

1 document

1 / 16

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
CĐ 6: Nội dung Biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội.
Vận dụng mối quan hệ biện chứng này trong đổi mới tư duy kinh
tế, tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
1. Tồn tại xã hội:4
1.1.Khái niệm:
- Là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã
hội.
- Là thực tại xã hội khách quan.
- Là các quan hệ vật chất được ý thức xã hội phản ánh.
- Trong đó, hai quan hệ xã hội vật chất cơ bản nhất là:
+ Quan hệ giữa con người và tự nhiên.
+ Quan hệ giữa con người với con người.
=> Hai mối quan hệ này xuất hiện trong quá trình hình thành xã hội loài người
+ Quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ngay trong Bản thảo kinh tế -
triết học năm 1884, C.Mác đã viết: “Giới tự nhiên - cụ thể cái giới tự nhiên
trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể
vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới
tự nhiên thân thể của con người, thân thể với nó, con người phải lại
trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác
tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thể chẳng qua chỉ
nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ
phận của giới tự nhiên”.
→ Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, tự nhiên cung cấp tất
cả các nguồn vật chất vốn của sinh quyển để con người tồn tại, con người
chinh phục và cải biến, biến đổi tự nhiên thông qua quá trình lao động sản xuất.
(VD: Thời tiền sử, các bộ lạc săn bắt, hái lượm, dùng đá cuội để chế tác công cụ.
Công cụ còn rất thô sơ song đã có những bước tiến lớn trong kỹ thuật chế tác, có
nhiều loại hình ổn định nhằm phục vụ đời sống. Thời kì này con người nhận biết
tận dụng nhiều loại nguyên vật liệu như đá, đất sét, xương, sừng, tre gỗ,…
Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu thuận lợi cộng với sự đa dạng của các loài động
thực vật tạo nên nguồn tài nguyên phong phú. Nhưng cũng chính sự khai thác
quá mức của con người mà giới tự nhiên ngày càng bị phá hủy, nhưViệt Nam
tình trạng biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí,... Như chính lời Ăngghen
đã cảnh báo chúng ta từ xa xưa, khi sự cân bằng giữa con người và tự nhiên bị
phá vỡ, khi những hoạt động chinh phục, cải biến đi quá giới hạn chịu đựng của
tự nhiên, con người sẽ phải chịu những hậu quả khôn lường: “chúng ta đã phải
trải qua hàng nghìn năm lao động mới thể, trong một chừng mực nào đó,
đánh giá trước được những hậu quả tự nhiên hội của những hành động sản
xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa,
mới có thể hiểu biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy”
(trích cuốn Toàn tập về C.Mác PH.Ăngghen, NXB Chính trị Quốc gia HN,
2002).
pf3
pf4
pf5
pf8
pf9
pfa
pfd
pfe
pff

Partial preview of the text

Download philosophical documents and more Schemes and Mind Maps Law in PDF only on Docsity!

CĐ 6: Nội dung Biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội.

Vận dụng mối quan hệ biện chứng này trong đổi mới tư duy kinh

tế, tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

1. Tồn tại xã hội: 1 .1.Khái niệm:

  • Là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
  • Là thực tại xã hội khách quan.
  • Là các quan hệ vật chất được ý thức xã hội phản ánh.
  • Trong đó, hai quan hệ xã hội vật chất cơ bản nhất là:
  • Quan hệ giữa con người và tự nhiên.
  • Quan hệ giữa con người với con người. => Hai mối quan hệ này xuất hiện trong quá trình hình thành xã hội loài người
  • Quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ngay trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1884, C.Mác đã viết : “Giới tự nhiên - cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó, con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thể chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”. → Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, tự nhiên cung cấp tất cả các nguồn vật chất vốn có của sinh quyển để con người tồn tại, con người chinh phục và cải biến, biến đổi tự nhiên thông qua quá trình lao động sản xuất. (VD: Thời tiền sử, các bộ lạc săn bắt, hái lượm, dùng đá cuội để chế tác công cụ. Công cụ còn rất thô sơ song đã có những bước tiến lớn trong kỹ thuật chế tác, có nhiều loại hình ổn định nhằm phục vụ đời sống. Thời kì này con người nhận biết và tận dụng nhiều loại nguyên vật liệu như đá, đất sét, xương, sừng, tre gỗ,… Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu thuận lợi cộng với sự đa dạng của các loài động thực vật tạo nên nguồn tài nguyên phong phú. Nhưng cũng chính sự khai thác quá mức của con người mà giới tự nhiên ngày càng bị phá hủy, như ở Việt Nam là tình trạng biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí,... Như chính lời mà Ăngghen đã cảnh báo chúng ta từ xa xưa, khi sự cân bằng giữa con người và tự nhiên bị phá vỡ, khi những hoạt động chinh phục, cải biến đi quá giới hạn chịu đựng của tự nhiên, con người sẽ phải chịu những hậu quả khôn lường: “chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự nhiên xã hội của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy” (trích cuốn Toàn tập về C.Mác và PH.Ăngghen, NXB Chính trị Quốc gia HN, 2002).

1 .2. Các điều kiện hình thành tồn tại XH:

  • Phương thức sản xuất vật chất.
  • Điều kiện tự nhiên: sông ngòi, kênh rạch, rừng núi,...
  • Dân số, dân cư. => Các yếu tố này tác động lẫn nhau, tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
  • Trong đó, phương thức sản xuất vật chất là phương thức cơ bản nhất, vì trình độ của phương thức sản xuất như thế nào sẽ quyết định sự tác động của con người đến môi trường tự nhiên và quy mô phát triển dân số như thế ấy. Theo lời mà C.Mác đã viết trong “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”. → C.Mác đã khẳng định mối quan hệ giữa tồn tại XH và ý thức XH, về vai trò quyết định của tồn tại XH với ý thức XH. _VD: + Trong điều kiện tự nhiên của VN: khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiều hệ thống sông ngòi → tất yếu khiến VN hình thành nên nền văn minh lúa nước từ xưa, là phương thức kinh tế thích hợp nhất. Và để có thể tiến hành được phương thức canh tác lúa nước, người Việt đã phải co cụm lại thành các làng xóm, xã chuyên về canh tác lúa, sản xuất gạo → VN đã là 1 trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất TG.
  • Còn với các nước Tây Nam Á như: Ả Rập xê út, Iran, Qatar,..., dù khu vực này có khí hậu khô hạn nhưng họ lại có nguồn khoáng sản cực kì dồi dào, đặc biệt là dầu mỏ với trữ lượng rất lớn. Và họ tận dụng lợi thế này, tạo ra phương thức sản xuất vật chất chính của họ là sử dụng lỗ khoan được gọi là “giếng dầu” để khai thác dầu mỏ, chế biến dầu mỏ và xuất khẩu ra nước ngoài để giúp cho nền kinh tế phát triển._ 2. Ý thức xã hội: 2 .1. Khái niệm:
  • Ý thức xã hội là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng để giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xã hội. Nói cách khác ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, là bộ phận hợp thành của văn hoá tinh thần xã hội, mang nặng dấu ấn đặc trưng của hình thái kinh tế của giai cấp đã tạo ra nó. Ý thức xã hội là xã hội tự nhận thức về mình, về sự tồn tại xã hội của mình và hiện thực xung quanh mình. Văn hoá tinh thần của xã hội mang nặng dấu ấn đặc trưng của hình thái kinh tế-xã hội, của các giai cấp đã tạo ra nó
  • Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau. Sự đa dạng các hình thái ý thức xã hội là do tính nhiều mặt, nhiều vẻ và đa dạng của đời sống xã hội quy định; chúng phản ánh xã hội theo những cách thức khác nhau

tồn tại xã hội, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tuy nhiên, không phải tâm lý xã hội tự nó sản sinh ra hệ tư tưởng xã hội

  • Đặc điểm của hệ tư tưởng:  Được hình thành khi con người nhận thức sâu sắc về sự vật, hiện tượng  Có khả năng đi sâu vào bản chất các mối quan hệ xã hội  Được hình thành tự giác bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và truyền bá trong xã hội  Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo…), kết quả sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội 2 .3. Tính giai cấp của ý thức XH: Trong những xã hội có giai cấp, các giai cấp khác nhau có điều kiện vật chất khác nhau, có lợi ích và địa vị, xã hội khác nhau thì ý thức xã hội của các giai cấp đó cũng khác nhau. Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện cả ở tâm lý xã hội lẫn ở hệ tư tưởng. 2.3.1.Trình độ tâm lý xã hội: Ở trình độ tâm lý xã hội, mỗi giai cấp xã hội đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen, thiện cảm hay ác cảm riêng. 2.3.2. Trình độ hệ tư tưởng:

- Ở trình độ hệ tư tưởng, tính giai cấp thể hiện rõ rệt và sâu sắc hơn nhiều. Sự đối lập giữa các hệ tư tưởng của những giai cấp khác nhau thường không dung hòa nhau. Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trong các xã hội có giai cấp đối kháng bao giờ cũng bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, của chế độ người bóc lột người. - Trái lại, hệ tư tưởng của giai cấp bị trị bao giờ cũng bảo vệ quyền lợi của những người bị bóc lột, của đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức nhằm lật đổ chế độ người bóc lột người đó. =>Tuy nhiên, khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội thì quan niệm duy vật về lịch sử cũng cho rằng : Ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau. Không chỉ giai cấp bị thống trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị thống trị. ( VD: Điều này thường xảy ra trong giai đoạn phong trào cách mạng của giai cấp bị thống trị lên cao. Khi đó những người tiến bộ trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức, sẽ từ bỏ giai cấp xuất thân để chuyển sang hàng ngũ của giai cấp cách mạng. Lịch sử cho thấy, không ít những người trong số trí thức đó đã trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.) 2.4. Các hình thái của ý thức XH: Các hình thái ý thức xã hội thể hiện các phương thức nắm bắt khác nhau về mặt tinh thần đối với hiện thực xã hội, bởi

vậy, ý thức xã hội tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Những hình thái chủ yếu của ý thức xã hội bao gồm: Ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức triết học. 2.4.1.Ý thức chính trị

- Hình thái ý thức chính trị phản ánh các mối quan hệ kinh tế của xã hội bằng ngôn ngữ chính trị cũng như mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia và thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước. - Hình thái ý thức chính trị xuất hiện trong những xã hội có giai cấp và có nhà nước, vì vậy nó thể hiện trực tiếp và rõ nhất lợi ích giai cấp. - Ý thức chính trị, nhất là hệ tư tưởng chính trị, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, vì hệ tư tưởng chính trị thể hiện trong cương lĩnh chính trị, trong đường lối và các chính sách của đảng chính trị, pháp luật của nhà nước, đồng thời cũng là công cụ thống trị xã hội của giai cấp thống trị. - Hệ tư tưởng chính trị tiến bộ sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các mặt của đời sống xã hội; ngược lại, hệ tư tưởng chính trị lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm, thậm chí kéo lùi sự phát triển đó. ( VD: (1) Trong thời đại hiện nay, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiến bộ, cách mạng và khoa học đang dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tiến tới xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn chế độ tư bản chủ nghĩa. (2) Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hoạt động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của nước ta; mà cốt lõi là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta. 2.4.2.Ý thức pháp quyền - Ý thức pháp quyền có mối liên hệ chặt chẽ với ý thức chính trị. Hình thái ý thức pháp quyền cũng phản ánh các mối quan hệ kinh tế của xã hội bằng ngôn ngữ pháp luật.

  • Giống như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền gần gũi với cơ sở kinh tế của xã hội hơn các hình thái ý thức xã hội khác.
  • Cũng giống như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời trong xã hội có giai cấp và có nhà nước, vì vậy nó cũng mang tính giai cấp. Do pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị thể hiện thành luật lệ cho nên trong xã hội có giai cấp đối kháng thì thái độ và cũng khác nhau. - Trong xã hội có giai cấp, ý thức pháp quyền là toàn bộ những tư tưởng quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước, của các tổ chức xã hội và của công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội. - Pháp luật và hệ tư tưởng pháp quyền xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng tư tưởng của giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác - Lênin, phản ánh lợi ích của toàn

lập với các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đó là thói ích kỷ, tính thực dụng, lòng tham lam, tất cả vì đồng tiền, không trung thực, thiếu lý tưởng, sống gấp,... => Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ giáo dục các giá trị đạo đức lành mạnh, tiến bộ là nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhất là đối với thế hệ trẻ. ( VD: Từ xa xưa, ông cha ta đã đúc kết, rút ra những bài học về đạo đức để răn dạy con người, thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ.) 2.4.4.Ý thức khoa học

- Khoa học hình thành và phát triển ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội, của nhu cầu sản xuất xã hội và sự phát triển năng lực tư duy của con người. - Khoa học là sự khái quát cao nhất của thực tiễn, là phương thức nắm bắt tất cả các hiện tượng có tính thực cung cấp những tri thức chân thực về bản chất các hiện tượng, các quá trình, các quy luật tự nhiên và của xã hội. Vì vậy, khoa học và tôn giáo là những hiện tượng đối lập với nhau về bản chất. Tôn giáo thù địch với lý trí con người, trong khi đó khoa học lại là sản phẩm cao nhất của lý trí và là sức mạnh của con người. Nếu ý thức tôn giáo là sự phản ánh hư ảo sức mạnh của giới tự nhiên bên ngoài lấn các quan hệ xã hội vào đầu óc con người thì ý thức khoa học phản ánh hiện thực một cách chân thực và chính xác dựa vào sự thật và lý trí của con người. - Khác với tất cả các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức khoa học phản ánh sự vận động và sự phát triển của giới tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người bằng tư duy logic, thông qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật và các lý thuyết. - Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi tri thức khoa học, cả tri thức về tự nhiên lẫn trì thức về xã hội và về con người, đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi nhân loại bước vào thời đại phát triển mạnh mẽ của công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo. - Khoa học đang góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu của thời đại, ngăn chặn những tác động xấu do sự vô ý thức là sự tham lam của con người trong quá trình phát triển kinh tế. ( VD: Các định luật của Newton về chuyển động là tập hợp của 3 định luật cơ học phát biểu bởi nhà bác học Isaac Newton, đặt nền tảng cho cơ học cổ điển (còn gọi là cơ học Newton)) 2.4.5.Ý thức thẩm mỹ - Ý thức thẩm mỹ hình thành rất sớm, từ trước khi xã hội có sự phân chia giai cấp, cùng với sự ra đời của các hình thái nghệ thuật. - Giống như các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức thẩm mỹ phản ánh tồn tại xã hội. Tuy nhiên, nếu khoa học và triết học phản ánh thế giới bằng khái niệm, bằng phạm trù và quy luật, thì nghệ thuật phản ánh thế giới bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật là sự nhận thức, sự lĩnh hội cái chung

trong cái riêng; là sự nhận thức cái bản chất trong các hiện tượng, cái phổ biến trong cái cá biệt nhưng mang tính điển hình.

- Nghệ thuật chân chính gắn với cuộc sống của nhân dân và các hình tượng nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao đáp ứng những nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh, đa dạng của nhiều thế hệ. Chúng có tác động tích cực đến sự trải nghiệm, xúc cảm, tình cảm, lý trí, là nhân tố kích thích mạnh mẽ hoạt động của con người, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, còn có tác dụng giáo dục các thế hệ tương lai, góp phần hình thành ở họ thế giới quan và vốn văn hóa tiên tiến. - Trong xã hội có phân chia giai cấp, nghệ thuật mang tính giai cấp và chịu sự chi phối của các quan điểm chính trị, của các quan hệ kinh tế. - Nghệ thuật và ý thức thẩm mỹ vẫn có những yếu tố mang tính toàn nhân loại: nhiều nền nghệ thuật, nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ở các giai đoạn lịch sử khác nhau,... đã trở thành những giá trị văn hóa chung tiêu biểu, trường tồn và vô giá của nhân loại. ( VD: Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của văn nghệ, của các văn nghệ sĩ, đồng thời cũng đòi hỏi ở văn nghệ và văn nghệ sĩ tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc) 2.4.6. Ý thức tôn giáo - Đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, tôn giáo có trước triết học; nó là một hình thái ý thức xã hội trực tiếp thể hiện thế giới quan của con người. Khác với tất cả các hình thái ý thức xã hội khác, tôn giáo là sự phản ánh hư ảo sức mạnh của giới tự nhiên bên ngoài lẫn các quan hệ xã hội vào đầu óc con người.

  • C. Mác viết: "Trình độ phát triển thấp kém của những sức sản xuất của lao động và tính chất hạn chế tương ứng của các quan hệ của con người trong khuôn khổ quá trình sản xuất ra đời sống vật chất, tức là tính chất hạn chế của tất cả các mối quan hệ giữa người ta với nhau và với thiên nhiên... đã phản ánh vào trong những tôn giáo cổ đại, thần thánh hóa thiên nhiên, và vào trong tín ngưỡng của nhân dân".
  • Tương tự như vậy, Ph. Ăngghen chỉ rõ: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”. - Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, cần phải tìm nguồn gốc của tôn giáo cả trong quan hệ của con người với tự nhiên lẫn trong các quan hệ xã hội của con người. Như vậy, những sức mạnh của tự nhiên và các lực lượng xã hội hiện thực được thần bí hóa chính là nguồn gốc thật sự của tôn giáo. Sự sợ hãi trước sức mạnh của tự nhiên, sự bất lực trước các thế lực xã hội đã tạo ra thần linh. - Tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, gồm có: tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo.
  • Tâm lý tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm, tâm trạng của quần chúng về tín ngưỡng tôn giáo.

học duy vật biện chứng. Triết học duy vật biện chứng có vai trò to lớn để nhận thức đúng đắn ý nghĩa và vai trò của các hình thái ý thức xã hội khác; để xác định đúng vị trí của những hình thái ấy trong cuộc sống của xã hội, để nhận thức tính quy luật cùng những đặc điểm, sự phát triển của chúng. ( VD: Ý thức được sự vận động phát triển của xã hội Việt Nam từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa xã hội. Ý thức được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội. Như trong quá trình khai thác than, nếu mỗi người làm việc tách biệt nhau, không có sự phối hợp giữa các cá nhân, không nghe lời chỉ đạo… tức không tồn tại mối quan hệ giữa những con người (quan hệ sản xuất) thì không thể khai thác than hiệu quả)

3. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội (TTXH) và ý thức xã hội (YTXH) 3.1. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội 3.1.1.TTXH quyết định YTXH: TTXH như thế nào thì có YTXH - Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng vận động, sự biến đổi và sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội; - Khi những tư tưởng, nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì những tư tưởng, quan điểm về chính trị, pháp luật, triết học và cả những quan niệm về thẩm mỹ lẫn đạo đức sớm hay muộn cũng sẽ có những thay đổi nhất định; - Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại mạnh mẽ đối với tồn tại xã hội, thậm chí vượt xa tồn tại xã hội. 3.1.2.Tính độc lập tương đối của YTXH ( YTXH tác động ngược trở lại TTXH) - YTXH có thể vượt trước TTXH: Đây chính là khả năng phản ánh đúng những mối liên hệ logic, khách quan, tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội. Lịch sử đã cho thấy nhiều dự báo của các nhà tư tưởng lớn phải sau một thời gian, có thể ngắn hoặc rất dài mới được thực tiễn xác nhận. - YTXH thường lạc hậu hơn TTXH: Lịch sử loài người cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi rất lâu, song ý thức xã hội do xã hội đó sản sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại. Điều này biểu hiện rất rõ ở những thói quen, phong tục, tập quán. - Nguyên nhân + Tác động mạnh mẽ vào nhiều mặt trong hoạt động thực tiễn của con người nên tồn tại xã hội diễn ra với tốc độ nhanh hơn khả năng phản ánh của ý thức xã hội (ví dụ: tư tưởng gia trưởng) + Sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống và do cả tính bảo thủ của hình thái ý thức xã hội. Hơn nữa, những điều kiện tồn tại xã hội mới cũng chưa đủ đề làm cho những thói quen, tập quán và truyền thống cũ hoàn toàn mất đi + Ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của những tập đoàn người, của các giai cấp nào đó trong xã hội. Các tập đoàn hay giai cấp lạc hậu thường níu

kéo, bám chặt vào những hệ tư tưởng lạc hậu để bảo vệ và duy trì quyền lợi ích kỷ của họ, để chống lại các lực lượng tiến bộ trong xã hội.

  • Vì vậy, muốn xây dựng xã hội mới nhất định phải xoá bỏ được tàn dư, những ý tưởng và ý thức xã hội cũ song song với việc bồi đắp, xây dựng và phát triển ý thức xã hội mới. Tuy nhiên, khi thực hiện những nhiệm vụ này thì không được nóng vội, không được dùng các biện pháp hành chính. 3.1.3.Tính kế thừa trong sự phát triển của YTXH - Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng những quan điểm lý luận của mỗi thời đại không phát hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những thành tựu lý luận của các thời đại trước. Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. - Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của YTXH gắn với tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại (VD: Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, Đảng ta khẳng định: trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc, đồng thời phải biết tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam) 3.1.4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội (YTXH) - Các hình thái YTXH ( chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, triết học, văn học,..) đều có nguồn gốc từ TTXH - Mỗi hình thái YTXH phản ánh 1 đối tượng nhất định nào đó của TTXH. Nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ với nhau, góp phần làm nổi bật tính chất, vai trò của mỗi hình thái YTXH. Nên khi xem xét một hình thái YTXH nào thì cần chú ý không chỉ đến các điều kiện kinh tế - xã hội sinh ra nó và những yếu tố kế thừa từ giai đoạn trước, mà còn cần chú ý đến sự tác động của các hiện thái ý thức khác (VD: Trong thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp, có nhiều hình thức xã hội khác nhau nhưng Triết học phát triển hơn hẳn những hình thái ý thức xã hội khác, nó đã định hướng cho sự phát triển của các ngành khoa học khác) 3.1.5. YTXH tác động trở lại TTXH - Vì YTXH có tính vượt trước và tất cả mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo - YTXH tác động trở lại TTXH ntn?
  • Sự tác động trở lại của YTXH đến TTXH là một biểu hiện quan trọng trong tính độc lập tương đối của YTXH

- Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội - Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng - Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng là biểu hiện của những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế 4.2. THỰC TRẠNG TƯ DUY KINH TẾ VÀ TƯ DUY CHÍNH TRỊ TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI - Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986). - Đặt ra câu hỏi, bối cảnh nền kinh tế và chính trị giai đoạn trước đó như thế nào mới cần thiết tạo ra sự đổi mới? 4.2.1. Bối cảnh trong nước Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam ngày càng bộc lộ nhiều khó khăn, yếu kém và lâm vào tình trạng khủng hoảng 4.2.1.1.Tư duy kinh tế - Trong thời kỳ chiến tranh, Đảng ta xác định:

Ưu tiên chính trị > Kinh tế là nhân tố phục vụ cho mục tiêu chính trị => Các nhu cầu, lợi ích kinh tế tạm thời gác lại để ưu tiên tập trung cho giải phóng dân tộc => Sau khi chiến tranh kết thúc, tư duy về kinh tế không còn phù hợp khiến cho nền kinh tế nước ta vô cùng khó khăn - Chịu sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, sự bao vây cấm vận của các nước tư bản… - Đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp: + Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế mà không coi trọng những quy luật thị trường + Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ yếu trong thời kỳ bao cấp, còn những thành phần kinh tế khác lại phần đông không được chú trọng => Tư duy này khiến cho nền kinh tế rơi vào trì trệ, khủng hoảng: làm thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với các chủ thể là những người lao động. Bên cạnh đó cơ chế này cũng không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh. 4.2.1.2. Tư duy chính trị - Mô hình quan liêu bao cấp duy trì trong hàng chục năm => Chính trị mang nặng tính quan liêu, hạn chế sự phát triển của kinh tế - Duy trì chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền => Buộc VN phải đổi mới để phù hợp hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phòng chống những biểu hiện tiêu cực có thể xảy ra của mô hình kinh tế thị trường - Sau hơn 70 năm tồn tại, đến cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, do hậu quả của chiến tranh lạnh, toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng

toàn diện và sâu sắc. Đứng trước sự thử thách, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tìm cách thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng nhiều cách khác nhau. => Yêu cầu Việt Nam phải tự chủ về chính trị => Cũng giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác, Việt Nam thực hiện công cuộc xây dựng đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa với đường lối “ không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải.” - Thủ tướng P.M.Chính - => Mô hình kinh tế - chính trị không còn phù hợp, yêu cầu Việt Nam lúc này phải nghiên cứu một mô hình mới phù hợp hơn với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam => Vì vậy, Việt Nam buộc phải tiến hành đổi mới, trong đó có vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị một cách biện chứng 4.2.2. Bối cảnh quốc tế Giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX thì đổi mới, cải cách đã trở thành xu thế chung của thời đại

- Chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoạihợp tác trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình - Nhu cầu cải thiện môi trường hòa bình ở khu vực Đông Nam Á để phát triển kinh tế lúc này trở thành nhu cầu chung của các nước thuộc cả hai khối ASEAN và Đông Dương => Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó => Yêu cầu đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ thực tiễn khách quan, là do yêu cầu của cách mạng Việt Nam và là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam 4.2.3. Kết luận - Khẳng định việc đổi mới tư duy kinh tế và tư duy chính trị là việc cần thiết, là tiền đề để phát triển kinh tế: + Tư duy kinh tế và tư duy chính trị là những yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế + Tư duy kinh tế và tư duy chính trị tiến bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo hướng khoa học, hiện đại. - Trong đó, phát triển kinh tế: + Là nhiệm vụ trọng tâm, là cơ sở để phát triển đất nước. + Là quá trình biến đổi, phát triển của nền sản xuất vật chất. => Những thay đổi nền sản xuất vật chất (dẫn đến thay đổi quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng) tác động đến ý thức xã hội, thúc đẩy sự phát triển của ý thức xã hội theo hướng tiến bộ. 4. 3. Chủ trương của quá trình đổi mới 4.3.1.Chủ trương đổi mới: Từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, trên cơ sở nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung và quan điểm của C. Mác về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói riêng, Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị.

- Từ một nước kém phát triển, Việt Nam vươn lên là một nước phát triển trung bình thấp; từ một nước đói nghèo với tỉ lệ cao, trở thành một nước có tỉ lệ nghèo dưới 10% (theo chuẩn mới) + Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, tăng từ 37.975 nghìn người vào năm 2000, lên 53. nghìn người vào năm 2017 tăng 41,4%, bình quân mỗi năm tăng 2,4%/năm; năng suất lao động xã hội năm 2005 đạt 21,4 triệu đồng/người, đến năm 2017 đạt 93, triệu đồng/người.

  • Trong vòng 12 năm, năng suất lao động xã hội tăng 3,35 lần, bình quân tăng 27,9%/năm; tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta thấp và có xu hướng giảm dần từ 2,88% năm 2010, xuống 2,24% vào năm 2017 + Từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới những năm 1980, thiếu đói thường xuyên, lạc hậu, kém phát triển (khoảng ¾ dân số sống dưới mức nghèo khổ), chỉ trong vòng một thế hệ, Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển, với thu nhập bình quân đầu người 3.512 USD vào năm 2020; quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ USD (theo số liệu tính toán lại), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN.
  • Từ một nước đóng cửa, có vị thế kinh tế, chính trị thấp, Việt nam đã mở cửa, có quan hệ rộng rãi với cộng đồng quốc tế và tham gia tích cực vào đời sống kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới
  • Nếu năm 1986 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mới đạt 2.944 triệu USD, trong đó, xuất khẩu đạt 789 triệu USD, nhập khẩu 2.155 triệu USD, thì năm 2017, tức là sau 31 năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 425 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 213,96 tỷ USD, nhập khẩu đạt 211,04 tỷ USD, xuất siêu hơn 2,9 tỷ USD.
  • Vị thế, tiếng nói, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được cải thiện và khẳng định. + Tới 27/11/2023, đã có 6 nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là: Trung Quốc (2008), Nga (2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Hoa Kỳ (10/09/2023) và Nhật Bản (27/11/2023) + Sáng 7-6 (giờ địa phương), tại Trụ sở Liên hợp quốc tại Niu Oóc, Hoa Kỳ, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu ủng hộ cao kỷ lục, 192 trên tổng số 193 phiếu.Tiếp theo nhiệm kỳ đầu tiên năm 2008-2009, đây là lần thứ hai Việt Nam được bầu làm thành viên của cơ quan này.