









Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
theme of consciousness and humanity
Typology: Schemes and Mind Maps
1 / 16
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!










1. Tồn tại xã hội: 1 .1.Khái niệm:
1 .2. Các điều kiện hình thành tồn tại XH:
tồn tại xã hội, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tuy nhiên, không phải tâm lý xã hội tự nó sản sinh ra hệ tư tưởng xã hội
- Ở trình độ hệ tư tưởng, tính giai cấp thể hiện rõ rệt và sâu sắc hơn nhiều. Sự đối lập giữa các hệ tư tưởng của những giai cấp khác nhau thường không dung hòa nhau. Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trong các xã hội có giai cấp đối kháng bao giờ cũng bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, của chế độ người bóc lột người. - Trái lại, hệ tư tưởng của giai cấp bị trị bao giờ cũng bảo vệ quyền lợi của những người bị bóc lột, của đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức nhằm lật đổ chế độ người bóc lột người đó. =>Tuy nhiên, khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội thì quan niệm duy vật về lịch sử cũng cho rằng : Ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau. Không chỉ giai cấp bị thống trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị thống trị. ( VD: Điều này thường xảy ra trong giai đoạn phong trào cách mạng của giai cấp bị thống trị lên cao. Khi đó những người tiến bộ trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức, sẽ từ bỏ giai cấp xuất thân để chuyển sang hàng ngũ của giai cấp cách mạng. Lịch sử cho thấy, không ít những người trong số trí thức đó đã trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.) 2.4. Các hình thái của ý thức XH: Các hình thái ý thức xã hội thể hiện các phương thức nắm bắt khác nhau về mặt tinh thần đối với hiện thực xã hội, bởi
vậy, ý thức xã hội tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Những hình thái chủ yếu của ý thức xã hội bao gồm: Ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức triết học. 2.4.1.Ý thức chính trị
- Hình thái ý thức chính trị phản ánh các mối quan hệ kinh tế của xã hội bằng ngôn ngữ chính trị cũng như mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia và thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước. - Hình thái ý thức chính trị xuất hiện trong những xã hội có giai cấp và có nhà nước, vì vậy nó thể hiện trực tiếp và rõ nhất lợi ích giai cấp. - Ý thức chính trị, nhất là hệ tư tưởng chính trị, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, vì hệ tư tưởng chính trị thể hiện trong cương lĩnh chính trị, trong đường lối và các chính sách của đảng chính trị, pháp luật của nhà nước, đồng thời cũng là công cụ thống trị xã hội của giai cấp thống trị. - Hệ tư tưởng chính trị tiến bộ sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các mặt của đời sống xã hội; ngược lại, hệ tư tưởng chính trị lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm, thậm chí kéo lùi sự phát triển đó. ( VD: (1) Trong thời đại hiện nay, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiến bộ, cách mạng và khoa học đang dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tiến tới xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn chế độ tư bản chủ nghĩa. (2) Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hoạt động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của nước ta; mà cốt lõi là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta. 2.4.2.Ý thức pháp quyền - Ý thức pháp quyền có mối liên hệ chặt chẽ với ý thức chính trị. Hình thái ý thức pháp quyền cũng phản ánh các mối quan hệ kinh tế của xã hội bằng ngôn ngữ pháp luật.
lập với các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đó là thói ích kỷ, tính thực dụng, lòng tham lam, tất cả vì đồng tiền, không trung thực, thiếu lý tưởng, sống gấp,... => Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ giáo dục các giá trị đạo đức lành mạnh, tiến bộ là nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhất là đối với thế hệ trẻ. ( VD: Từ xa xưa, ông cha ta đã đúc kết, rút ra những bài học về đạo đức để răn dạy con người, thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ.) 2.4.4.Ý thức khoa học
- Khoa học hình thành và phát triển ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội, của nhu cầu sản xuất xã hội và sự phát triển năng lực tư duy của con người. - Khoa học là sự khái quát cao nhất của thực tiễn, là phương thức nắm bắt tất cả các hiện tượng có tính thực cung cấp những tri thức chân thực về bản chất các hiện tượng, các quá trình, các quy luật tự nhiên và của xã hội. Vì vậy, khoa học và tôn giáo là những hiện tượng đối lập với nhau về bản chất. Tôn giáo thù địch với lý trí con người, trong khi đó khoa học lại là sản phẩm cao nhất của lý trí và là sức mạnh của con người. Nếu ý thức tôn giáo là sự phản ánh hư ảo sức mạnh của giới tự nhiên bên ngoài lấn các quan hệ xã hội vào đầu óc con người thì ý thức khoa học phản ánh hiện thực một cách chân thực và chính xác dựa vào sự thật và lý trí của con người. - Khác với tất cả các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức khoa học phản ánh sự vận động và sự phát triển của giới tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người bằng tư duy logic, thông qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật và các lý thuyết. - Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi tri thức khoa học, cả tri thức về tự nhiên lẫn trì thức về xã hội và về con người, đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi nhân loại bước vào thời đại phát triển mạnh mẽ của công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo. - Khoa học đang góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu của thời đại, ngăn chặn những tác động xấu do sự vô ý thức là sự tham lam của con người trong quá trình phát triển kinh tế. ( VD: Các định luật của Newton về chuyển động là tập hợp của 3 định luật cơ học phát biểu bởi nhà bác học Isaac Newton, đặt nền tảng cho cơ học cổ điển (còn gọi là cơ học Newton)) 2.4.5.Ý thức thẩm mỹ - Ý thức thẩm mỹ hình thành rất sớm, từ trước khi xã hội có sự phân chia giai cấp, cùng với sự ra đời của các hình thái nghệ thuật. - Giống như các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức thẩm mỹ phản ánh tồn tại xã hội. Tuy nhiên, nếu khoa học và triết học phản ánh thế giới bằng khái niệm, bằng phạm trù và quy luật, thì nghệ thuật phản ánh thế giới bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật là sự nhận thức, sự lĩnh hội cái chung
trong cái riêng; là sự nhận thức cái bản chất trong các hiện tượng, cái phổ biến trong cái cá biệt nhưng mang tính điển hình.
- Nghệ thuật chân chính gắn với cuộc sống của nhân dân và các hình tượng nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao đáp ứng những nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh, đa dạng của nhiều thế hệ. Chúng có tác động tích cực đến sự trải nghiệm, xúc cảm, tình cảm, lý trí, là nhân tố kích thích mạnh mẽ hoạt động của con người, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, còn có tác dụng giáo dục các thế hệ tương lai, góp phần hình thành ở họ thế giới quan và vốn văn hóa tiên tiến. - Trong xã hội có phân chia giai cấp, nghệ thuật mang tính giai cấp và chịu sự chi phối của các quan điểm chính trị, của các quan hệ kinh tế. - Nghệ thuật và ý thức thẩm mỹ vẫn có những yếu tố mang tính toàn nhân loại: nhiều nền nghệ thuật, nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ở các giai đoạn lịch sử khác nhau,... đã trở thành những giá trị văn hóa chung tiêu biểu, trường tồn và vô giá của nhân loại. ( VD: Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của văn nghệ, của các văn nghệ sĩ, đồng thời cũng đòi hỏi ở văn nghệ và văn nghệ sĩ tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc) 2.4.6. Ý thức tôn giáo - Đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, tôn giáo có trước triết học; nó là một hình thái ý thức xã hội trực tiếp thể hiện thế giới quan của con người. Khác với tất cả các hình thái ý thức xã hội khác, tôn giáo là sự phản ánh hư ảo sức mạnh của giới tự nhiên bên ngoài lẫn các quan hệ xã hội vào đầu óc con người.
học duy vật biện chứng. Triết học duy vật biện chứng có vai trò to lớn để nhận thức đúng đắn ý nghĩa và vai trò của các hình thái ý thức xã hội khác; để xác định đúng vị trí của những hình thái ấy trong cuộc sống của xã hội, để nhận thức tính quy luật cùng những đặc điểm, sự phát triển của chúng. ( VD: Ý thức được sự vận động phát triển của xã hội Việt Nam từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa xã hội. Ý thức được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội. Như trong quá trình khai thác than, nếu mỗi người làm việc tách biệt nhau, không có sự phối hợp giữa các cá nhân, không nghe lời chỉ đạo… tức không tồn tại mối quan hệ giữa những con người (quan hệ sản xuất) thì không thể khai thác than hiệu quả)
3. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội (TTXH) và ý thức xã hội (YTXH) 3.1. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội 3.1.1.TTXH quyết định YTXH: TTXH như thế nào thì có YTXH - Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng vận động, sự biến đổi và sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội; - Khi những tư tưởng, nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì những tư tưởng, quan điểm về chính trị, pháp luật, triết học và cả những quan niệm về thẩm mỹ lẫn đạo đức sớm hay muộn cũng sẽ có những thay đổi nhất định; - Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại mạnh mẽ đối với tồn tại xã hội, thậm chí vượt xa tồn tại xã hội. 3.1.2.Tính độc lập tương đối của YTXH ( YTXH tác động ngược trở lại TTXH) - YTXH có thể vượt trước TTXH: Đây chính là khả năng phản ánh đúng những mối liên hệ logic, khách quan, tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội. Lịch sử đã cho thấy nhiều dự báo của các nhà tư tưởng lớn phải sau một thời gian, có thể ngắn hoặc rất dài mới được thực tiễn xác nhận. - YTXH thường lạc hậu hơn TTXH: Lịch sử loài người cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi rất lâu, song ý thức xã hội do xã hội đó sản sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại. Điều này biểu hiện rất rõ ở những thói quen, phong tục, tập quán. - Nguyên nhân + Tác động mạnh mẽ vào nhiều mặt trong hoạt động thực tiễn của con người nên tồn tại xã hội diễn ra với tốc độ nhanh hơn khả năng phản ánh của ý thức xã hội (ví dụ: tư tưởng gia trưởng) + Sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống và do cả tính bảo thủ của hình thái ý thức xã hội. Hơn nữa, những điều kiện tồn tại xã hội mới cũng chưa đủ đề làm cho những thói quen, tập quán và truyền thống cũ hoàn toàn mất đi + Ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của những tập đoàn người, của các giai cấp nào đó trong xã hội. Các tập đoàn hay giai cấp lạc hậu thường níu
kéo, bám chặt vào những hệ tư tưởng lạc hậu để bảo vệ và duy trì quyền lợi ích kỷ của họ, để chống lại các lực lượng tiến bộ trong xã hội.
- Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội - Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng - Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng là biểu hiện của những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế 4.2. THỰC TRẠNG TƯ DUY KINH TẾ VÀ TƯ DUY CHÍNH TRỊ TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI - Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986). - Đặt ra câu hỏi, bối cảnh nền kinh tế và chính trị giai đoạn trước đó như thế nào mới cần thiết tạo ra sự đổi mới? 4.2.1. Bối cảnh trong nước Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam ngày càng bộc lộ nhiều khó khăn, yếu kém và lâm vào tình trạng khủng hoảng 4.2.1.1.Tư duy kinh tế - Trong thời kỳ chiến tranh, Đảng ta xác định:
Ưu tiên chính trị > Kinh tế là nhân tố phục vụ cho mục tiêu chính trị => Các nhu cầu, lợi ích kinh tế tạm thời gác lại để ưu tiên tập trung cho giải phóng dân tộc => Sau khi chiến tranh kết thúc, tư duy về kinh tế không còn phù hợp khiến cho nền kinh tế nước ta vô cùng khó khăn - Chịu sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, sự bao vây cấm vận của các nước tư bản… - Đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp: + Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế mà không coi trọng những quy luật thị trường + Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ yếu trong thời kỳ bao cấp, còn những thành phần kinh tế khác lại phần đông không được chú trọng => Tư duy này khiến cho nền kinh tế rơi vào trì trệ, khủng hoảng: làm thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với các chủ thể là những người lao động. Bên cạnh đó cơ chế này cũng không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh. 4.2.1.2. Tư duy chính trị - Mô hình quan liêu bao cấp duy trì trong hàng chục năm => Chính trị mang nặng tính quan liêu, hạn chế sự phát triển của kinh tế - Duy trì chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền => Buộc VN phải đổi mới để phù hợp hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phòng chống những biểu hiện tiêu cực có thể xảy ra của mô hình kinh tế thị trường - Sau hơn 70 năm tồn tại, đến cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, do hậu quả của chiến tranh lạnh, toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng
toàn diện và sâu sắc. Đứng trước sự thử thách, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tìm cách thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng nhiều cách khác nhau. => Yêu cầu Việt Nam phải tự chủ về chính trị => Cũng giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác, Việt Nam thực hiện công cuộc xây dựng đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa với đường lối “ không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải.” - Thủ tướng P.M.Chính - => Mô hình kinh tế - chính trị không còn phù hợp, yêu cầu Việt Nam lúc này phải nghiên cứu một mô hình mới phù hợp hơn với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam => Vì vậy, Việt Nam buộc phải tiến hành đổi mới, trong đó có vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị một cách biện chứng 4.2.2. Bối cảnh quốc tế Giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX thì đổi mới, cải cách đã trở thành xu thế chung của thời đại
- Chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoại và hợp tác trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình - Nhu cầu cải thiện môi trường hòa bình ở khu vực Đông Nam Á để phát triển kinh tế lúc này trở thành nhu cầu chung của các nước thuộc cả hai khối ASEAN và Đông Dương => Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó => Yêu cầu đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ thực tiễn khách quan, là do yêu cầu của cách mạng Việt Nam và là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam 4.2.3. Kết luận - Khẳng định việc đổi mới tư duy kinh tế và tư duy chính trị là việc cần thiết, là tiền đề để phát triển kinh tế: + Tư duy kinh tế và tư duy chính trị là những yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế + Tư duy kinh tế và tư duy chính trị tiến bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo hướng khoa học, hiện đại. - Trong đó, phát triển kinh tế: + Là nhiệm vụ trọng tâm, là cơ sở để phát triển đất nước. + Là quá trình biến đổi, phát triển của nền sản xuất vật chất. => Những thay đổi nền sản xuất vật chất (dẫn đến thay đổi quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng) tác động đến ý thức xã hội, thúc đẩy sự phát triển của ý thức xã hội theo hướng tiến bộ. 4. 3. Chủ trương của quá trình đổi mới 4.3.1.Chủ trương đổi mới: Từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, trên cơ sở nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung và quan điểm của C. Mác về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói riêng, Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị.
- Từ một nước kém phát triển, Việt Nam vươn lên là một nước phát triển trung bình thấp; từ một nước đói nghèo với tỉ lệ cao, trở thành một nước có tỉ lệ nghèo dưới 10% (theo chuẩn mới) + Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, tăng từ 37.975 nghìn người vào năm 2000, lên 53. nghìn người vào năm 2017 tăng 41,4%, bình quân mỗi năm tăng 2,4%/năm; năng suất lao động xã hội năm 2005 đạt 21,4 triệu đồng/người, đến năm 2017 đạt 93, triệu đồng/người.