









Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Philosophy Assignment About Viewpoints of Marxist-Leninist philosophy on knowledge and roles of knowledge and the application of that
Typology: Essays (university)
1 / 15
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!










Họ và tên: Nguyễn Cẩm Tú
Mã sinh viên: 11219323
Lớp TC: Kế toán tích hợp chứng chỉ quốc tế
Số thứ tự: 46
Giáo viên hướng dẫn: T.S Lê Thị Hồng
Hà Nội, năm 2021
THỨC TRONG NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
tại, vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về tri thức, nhiều cuộc tranh luận về đề tài này vẫn đang được diễn ra.
Theo bách khoa toàn thư mở, tri thức được hiểu là những kiến thức, thông tin, sự hiểu biết, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm,thông qua giáo dục hay tự học hỏi. Trong tiếng Việt, cả "tri" lẫn "thức" đều có nghĩa là biết. Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành. Nó có thể ẩn tàng, chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tường minh, như những hiểu biết lý thuyết về một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống.
Tri thức còn có thể hiểu là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện trong tư tưởng con người những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống ký hiệu khác ( theo bách khoa toàn thư Việt Nam)
Với Davenport và Prusak (1998), tri thức là tập hợp kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo hoàn cảnh và sự hiểu biết sâu sắc để cung cấp mô hình đánh giá, kết hợp tạo ra kinh nghiệm và thông tin mới. Họ cho rằng tri thức bắt nguồn và được áp dụng ngay trong tâm trí của con người. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ xuất hiện trong các tài liệu mà còn trong thói quen, quá trình làm việc, thực tiễn và các chuẩn mực của tổ chức. Thêm vào đó, tri thức còn là việc sử dụng đầy đủ các thông tin và dữ liệu kết hợp cùng với những kỹ năng, ý tưởng, trực giác, cam kết và động lực của con người.
1.2. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về tri thức
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ. Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng. Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển. Theo Mác: “ phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó tồn tại đối với ý thức là tri thức”. Bên cạnh đó, ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội và lịch sử. Kết cấu của ý thức dựa trên các yếu tố hợp thành quá trình tâm lý tích cực, đem lại sự hiểu biết cho con người về thế giới khách quan như: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí,.. trong đó, tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất: “ Tri thức chính là hạt nhân của ý thức”. Ý thức mà không bao hàm tri thức thì ý thức đó là một sự trừu tượng trống rỗng, không giúp ích gì được cho con người trong hoạt động thực tiễn. Ví dụ: Các kỹ sư muốn chế tạo dây chuyền công nghệ tự động hóa mô phỏng cách thức làm bánh,
làm rượu ngon thường phải bắt đầu bằng việc trở thành thợ học việc. Sau khi tự mình lĩnh hội bí quyết cách làm của các nghệ nhân thì họ mới có thể sáng tạo ra công nghệ phù hợp. Nếu không có tri thức, không có sự học hỏi, trau dồi thì họ khó có thể phát triển những ý tưởng, dự định của mình và đồng thời sẽ làm mất đi sự chất lượng của sản phẩm mà họ sản xuất ra trong thực tế.
1.3. Phân loại tri thức
Tri thức có trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: tri thức về tự nhiên, xã hội, con người; và có nhiều cấp độ khác nhau như tri thức cảm tính và tri thức lý tính; dựa vào trình độ phản ánh có tri thức kinh nghiệm và tri thức trừu tượng… Nhưng nhìn chung, cách phân loại tri thức phổ biến nhất là phân chia tri thức thành 2 loại: tri thức ẩn và tri thức hiện.
a. Tri thức ẩn Tri thức ẩn được hiểu là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng dạng tri thức này thường ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó "mã hóa" và chuyển giao, thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng... Ví dụ: trong âm nhạc, các ca sĩ, nhạc sĩ chuyên nghiệp có khả năng cảm nhạc rất tốt. Đây là một dạng tri thức ẩn, nó nằm trong mỗi nghệ sĩ. Hay ví như một bác sĩ với kinh nghiệm lâu năm khi nhìn thấy các triệu chứng của bệnh nhân sẽ lập tức đoán ra được họ đang gặp vấn đề sức khỏe gì. Loại tri thức này không thể "mã hóa" thành văn bản, cũng không thể chuyển giao, mà người ta chỉ có thể có bằng cách tự mình luyện tập.
b. Tri thức hiện Tri thức hiện là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các phương tiện khác. Đây là những tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính quy. Ví dụ như “Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt”, câu tục ngữ đã cung cấp cho người đọc, người nghe tri thức về thiên nhiên và lao động sản xuất: Ở nước ta, mùa lũ xảy ra vào tháng bảy (âm lịch), nhưng có năm kéo dài sang cả tháng tám (âm lịch). Từ kinh nghiệm quan sát, nhân dân tổng kết quy luật: kiến bò nhiều vào tháng bảy - thường là bò lên cao
thức sâu rộng nhờ đó mà ta lực lượng yếu vẫn thắng địch giành lại độc lập cho dân. Ngày nay, khi đất nước được thái bình, tri thức lại càng trở nên cần thiết hơn trong sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Vậy, tri thức có những tác động như thế nào lên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị và văn hóa giáo dục?
2.2.1. Vai trò của tri thức đối với kinh tế a. Kinh tế tri thức Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu… nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, nhanh chóng về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động. Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa đặc biệt: lực lượng sản xuất xã hội đang chuyển từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Sau nhiều năm được nghiên cứu, tới nay kinh tế tri thức đã trở thành xu hướng không thể phủ nhận. Hiện nay, kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là kinh tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác nhau. Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (Knowledge – Based Economy) có thể hiểu là nền kinh tế phát triển dựa trên sức mạnh của tri thức để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của kinh tế. Bao gồm các hoạt động chuyển giao, cải tiến, nghiên cứu các công nghệ với mục đích tạo ra nhiều của cải vật chất, nâng cao chất lượng sống của người dân. Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn; thứ hai, trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất ngày càng phụ thuộc vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; thứ ba, cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi như lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người. Bên cạnh đó, xã hội của nền kinh tế tri thức sẽ trở thành xã hội học tập; tiếp theo, trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên vô cùng quan trọng và cuối cùng, mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa.
b. Vai trò của tri thức đối với kinh tế Tri thức là nguồn lực quan trọng nhất, đóng vai trò đầu tàu trong nền kinh tế dựa vào tri thức. Nếu như trong văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp, vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hoá với tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh
tế - xã hội, góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử thì trong nền kinh tế tri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế - xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai hay phụ thuộc vào lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức. Vốn tri thức đã và đang thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Nước Mỹ nói riêng và các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nói chung nhiều năm qua tăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, vũ trụ, đầu tư, ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm… Lê Nin từng khẳng định: “ Tri thức là sức mạnh. Ai có tri thức, người đó có sức mạnh”. Quả thực, chỉ có tri thức mới là nguồn lực vô hạn của nhân loại. Trước kia, sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên luôn là niềm tự hào và được coi là sức mạnh của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, quan điểm này đã dần trở nên thiếu chính xác. Bởi lẽ, tài nguyên thiên nhiên có phong phú đến đâu rồi cũng sẽ bị khai thác và dần cạn kiệt theo thời gian. Duy chỉ có tri thức là tồn tại vĩnh hằng, đó là thứ vũ khí tối thượng mà nếu con người biết cải thiện, phát huy, bồi đắp không ngừng thì sẽ trở thành một nguồn lực vô cùng to lớn đối với mỗi đất nước và sự phát triển của đất nước đó.
2.2.2. Vai trò của tri thức đối với chính trị Con người khi sở hữu tri thức sẽ tích lũy được cho bản thân mình những kiến thức và vốn hiểu biết nhất định. Tri thức của bản thân sẽ đúc kết cho chính họ nhiều khả năng cần thiết và quan trọng trong cuộc sống như khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích hay nghiên cứu về các khía cạnh của vấn đề một cách đúng đắn, khoa học... Bộ máy chính trị của một nhà nước luôn cần có sự đóng góp những cá nhân hội tụ đủ các phẩm chất, năng lực như thế. Bởi lẽ chính trị đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại. Một bộ máy chính trị sẽ phát huy được sức mạnh của mình một cách toàn diện nhất khi đó là tập hợp của những cá nhân với vốn tri thức sâu rộng, bởi họ có tầm nhìn, có những kiến thức hiểu biết về đường lối phát triển và xây dựng đất nước, những am hiểu đó sẽ giúp họ định hướng phát triển đất nước đúng đắn, đưa ra các chính sách sáng suốt và khiến cho người dân có thể hiểu được con đường mà đất nước họ đang đi, nắm rõ được lợi ích của họ. Quay ngược về quá khứ, chẳng phải những tri thức, tầm nhìn, và vốn hiểu biết sâu rộng của chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những yếu tố quyết định đưa nước ta thoát khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân hay sao? Chính lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi rọi cho Bác nhận ra rằng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng Cách Mệnh” để “trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Xuất phát từ nhận thức này, Người từng bước truyền bá một cách có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin về nước; ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc
là hoạt động tìm kiếm có chọn lọc và tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức mới theo hướng đi đúng đắn.
Để nghiên cứu và học tập một cách hiệu quả, trước hết mỗi sinh viên cần không ngừng học hỏi, tích cực tìm hiểu về những điều được dạy trong môi trường đại học. Việc tìm hiểu, học hỏi, lĩnh hội những kiến thức này có thể được thực hiện thông qua các cách thức như: nghiên cứu và học tập từ sách vở nơi tri thức được đúc kết và ghi chép lại vô cùng hệ thống và đầy đủ; nghiên cứu, học tập từ sự truyền đạt của giảng viên - một trong những phương pháp lưu truyền tri thức; tìm hiểu thông tin và các kiến thức trên mạng xã hội Internet và thậm chí còn có thể nghiên cứu, học tập từ thực tế đời sống xã hội vì đó chính là nguồn tri thức vô tận và vô cùng thiết thực. Bên cạnh đó, ta không nên chỉ chú trọng vào các kiến thức chuyên ngành mà còn cần kết hợp với các tri thức khoa học khác, biểu hiện chính là những môn đại cương dành cho các bạn sinh viên mới bước vào cánh cửa đại học. Bởi các môn học này sẽ cung cấp cho sinh viên nền tảng vững chắc, sự am hiểu về những quy luật trong cuộc sống để từ đó cung cấp những định hướng rõ ràng hơn về con đường phát triển trong tương lai. Nhận thức rõ vai trò của tri thức, các bạn sinh viên sẽ rút ra cho mình những phương pháp học tập chủ động, ngoài việc chăm chú nghe giảng trên lớp, các bạn còn cần có tinh thần tự giác, tự học. Tự học ở nhà, chuẩn bị và đọc trước giáo trình để tự hiểu nội dung, kiến thức mới và còn cần mạnh dạn trao đổi, thảo luận cùng giảng viên sẽ giúp mỗi bạn sinh viên chúng ta phát huy được năng lực vốn có, đồng thời học hỏi được những tri thức một cách đầy đủ, khách quan nhất.
Hơn nữa, tri thức còn nên được vận dụng trong quá trình thực hành. Sau khi học hỏi, tìm hiểu kĩ lưỡng về các nguyên lý, lý thuyết cơ bản được dạy trên trường, mỗi sinh viên cần cố gắng vận dụng chúng vào thực tế. Cách ứng dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế cuộc sống là vô cùng cần thiết và quan trọng, điều này sẽ phản ánh sự linh hoạt cũng như mức độ hiểu biết của mỗi sinh viên về tri thức đó và đồng thời, thông qua những trải nghiệm thực tế này, sinh viên còn có thể học hỏi được nhiều kỹ năng mềm vô cùng cần thiết và quan trọng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng ứng xử… Qua đó, sinh viên sẽ có khả năng tự nhìn nhận và đánh giá được năng lực của bản thân để rồi có những định hướng cụ thể cho việc phát triển trong tương lai.
Không dừng lại ở đó, mỗi sinh viên cũng cần vận dụng những tri thức của bản thân để có thể nghiên cứu các vấn đề một cách hợp lý, khoa học, đúng đắn và có định hướng. Bởi tri thức không chỉ là sản phẩm mà nó còn là một nguyên liệu vô cùng cần thiết trong quá trình tích lũy và đúc kết những kiến thức, kĩ năng trong cuộc sống. Chính nhờ những tri thức của bản thân và sự tìm tòi, học hỏi một cách kỹ lưỡng, đúng đắn, nhóm sinh viên Khoa Điện - điện tử Trường Đại học Bách
Khoa thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được giải thưởng quốc tế trong việc nghiên cứu và phát triển một hệ thống tự động phân tích hình ảnh giúp nông dân dễ dàng theo dõi quá trình phát triển của đàn tôm; cũng chính tri thức sâu rộng và sự ham học hỏi đã đưa Đoàn Văn Hiếu – cậu sinh viên khoa kỹ thuật máy tính Trường Đại học Công nghệ thông tin đến với giải ba cuộc thi Olympic vi điện tử quốc tế… Đó là những thành tích đáng tự hào mà phải nhờ tri thức và những nỗ lực trong quá trình học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi thì mới có được. Có tri thức, ta còn biết nhìn nhận mọi việc đa chiều, dưới nhiều góc độ để rồi phân biệt được cái đúng, cái sai; những điều nên làm và những thứ không nên làm… Điều này có lẽ lại càng quan trọng hơn trong thời đại toàn cầu hóa, khi có rất nhiều văn hóa, trào lưu từ các đất nước trên thế giới du nhập vào nước ta. Vậy ta cần ứng xử như thế nào trước bối cảnh ấy? Câu trả lời là hãy dùng những tri thức của bản thân để xem xét và phân biệt giữa cái tốt, cái đẹp và những thứ xấu xa để rồi học hỏi những điều hay và đồng thời bài trừ, bác bỏ những thói hư tật xấu, các tệ nạn xã hội.
Và cuối cùng, mỗi chúng ta cần tích cực tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động mang tính cộng đồng để có thể hoàn thiện và phát triển bản thân. Việc tham gia vào các hoạt động như thể thao, các hội thảo hay câu lạc bộ còn khiến mỗi các nhân có thể chủ động trong việc kiếm tìm và tiếp nhận tri thức. Qua quá trình đó, bản thân mỗi bạn trẻ sẽ có cơ hội học hỏi, tích lũy và trau dồi thêm nhiều kỹ năng và tri thức quan trọng trong cuộc sống. Việc sống hòa nhập với cộng đồng và xã hội còn giúp nâng cao trình độ, phát triển tư duy đồng thời thay đổi nhận thức của bản thân mỗi người. Bên cạnh việc trau dồi nghiên cứu và học tập các kiến thức trong sách vở thì các bạn sinh viên cần phải chủ động trau dồi cho mình vốn kiến thức về xã hội, để hòa nhập, bắt kịp với xu thế. Bồi dưỡng tri thức cũng như các kỹ năng một cách toàn diện, đa dạng để phát triển trong tương lai.
3.2. Liên hệ với việc nghiên cứu, học tập của bản thân
Qua việc tìm hiểu quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức, em đã tự
rút ra cho mình được nhận thức rõ ràng và sâu sắc về vai trò cũng như tầm quan
trọng của tri thức trong các lĩnh vực đời sống xã hội và đặc biệt là trong việc nghiên
cứu và học tập của sinh viên. Có thể nói, tri thức chính là chìa khóa quan trọng
nhất để mở cửa tương lai, soi đường, dẫn lối lớp trẻ nói riêng đến với những thành
công, những đỉnh vinh quang của chính bản thân mình. Vì vậy, bản thân em trước
hết sẽ cố gắng, nỗ lực học tập, tích cực tìm hiểu, trau dồi kiến thức, kỹ năng mọi
lúc, mọi nơi về mọi vấn đề trong cuộc sống. Bởi tri thức là vô hạn, ta biết càng
Đúng như Benjamin Franklin đã từng khẳng định : “ An investment in knowledge pays the best interest ” – “ Đầu tư vào tri thức đem lại lợi nhuận cao nhất”, tri thức quả thực mang đến cho nhân loại những giá trị vô cùng to lớn. Và ta lại càng có những nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của tri thức thông qua việc nghiên cứu quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức và vai trò của tri thức. Tri thức là hạt nhân của ý thức, là nguyên liệu và cũng là sản phẩm của mọi quá trình tìm hiểu và nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Không dừng lại ở đó, tri thức còn có tác động lớn tới hầu hết các mặt từ kinh tế, chính trị đến giáo dục,… đặc biệt, trong thời đại ngày nay khi hầu hết các quốc gia định hướng phát triển theo nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đó, sự vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin về tri thức trong quá trình nghiên cứu, học tập của sinh viên cũng vô cùng cần thiết và quan trọng, bởi lẽ quá trình này góp phần giúp cho việc tìm hiểu và học hỏi những kiến thức, kỹ năng mới một cách có định hướng, đúng đắn và đồng thời chỉ lối cho lớp trẻ phát triển hoàn thiện bản thân để bước tới những thành công trong tương lai.
1. Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019), Giáo trình Triết học , NXB: Bộ giáo dục và Đào tạo, Hà Nội. 2. PGS.TS. Ngô Tuấn Nghĩa (chủ biên, 2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lênin – NXB: Chính trị Quốc gia Sự thật 3. Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Học viện Chính trị Khu vực III ( chủ biên, 2021) Hành trình tìm đường cứu nước và lựa chọn con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh 4. Báo tuổi trẻ - https://tuoitre.vn/sinh-vien-viet-nam-gianh-giai-3-olympic-vi- dien-tu-quoc-te-20210318093938242.htm ( 2021) 5. Quách Đình Hợi, Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại – Nét đặc sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin https://baocantho.com.vn/bai-1-phuong-phap- ke-thua-tri-thuc-nhan-loai-net-dac-sac-cua-chu-nghia-mac-lenin- a136506.html (2021)