




























































































Study with the several resources on Docsity
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
Prepare for your exams
Study with the several resources on Docsity
Earn points to download
Earn points by helping other students or get them with a premium plan
This document provides an in-depth guide on optimizing content titles and descriptions to improve discoverability. It covers strategies for crafting effective titles, key elements to include in descriptions, and tips for maximizing engagement. Suitable for content creators, students, marketers, and researchers, the document incorporates examples from various fields and is applicable to platforms like academic repositories, professional networks, and content-sharing websites. Authored in 2024, it serves as a practical resource for enhancing visibility and download rates.
Typology: Schemes and Mind Maps
1 / 100
This page cannot be seen from the preview
Don't miss anything!





























































































PCI 2016
CHỈ SỐ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH
CẤP TỈNH
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc cuốn Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016. Báo cáo thường niên này là tập hợp “tiếng nói” của các doanh nghiệp nhằm đánh giá các nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh của các tỉnh, thành phố, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Trong 12 năm qua, PCI đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích và tin cậy cho cộng đồng doanh nghiệp cũng như các nhà hoạch định chính sách. Hiệu ứng cải cách trong PCI đã lan tỏa giữa các địa phương và lên cả cấp trung ương, là nguồn cảm hứng cho nhiều chương trình hành động cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh ở các cấp. Theo ghi nhận của nhóm nghiên cứu, năm nay, không chỉ các tỉnh “ngôi sao” mà các tỉnh nhóm dưới bảng xếp hạng cũng bắt đầu bứt phá với những ý tưởng, cách làm mới và sáng tạo. Hoạt động chia sẻ, học hỏi và áp dụng các kinh nghiệm, thực tiễn tốt về cải thiện chất lượng điều hành đã và đang diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước, khiến cho “cuộc đua” cải thiện PCI trở nên thú vị hơn bao giờ hết.
Báo cáo PCI năm nay cũng cho thấy nhiều tín hiệu khởi sắc về môi trường kinh doanh. Gần một nửa số doanh nghiệp trong nước có dự định mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong hai năm tới. Tương tự, hơn một nửa số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có ý định tăng quy mô hoạt động, mức cao nhất kể từ năm 2010. Đây là những điểm sáng đáng khích lệ trong bối cảnh thế giới năm vừa qua có nhiều biến động lớn, tiềm năng gây bất ổn cho nền kinh tế Việt Nam. Nhiều cải cách mạnh mẽ trong Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang bắt đầu có những tác
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2016 là kết quả của nỗ lực hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).
Chỉ số PCI được xây dựng, phát triển dưới sự chỉ đạo của Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI và Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, Giám đốc Dự án PCI; với sự hỗ trợ và đóng góp rất quan trọng của Ông Micheal Greene, Giám đốc USAID Việt Nam. Tiến sỹ Michael Trueblood, Trưởng Ban Phát triển Kinh tế và Điều hành, USAID Việt Nam đóng góp những nhận xét và bình luận rất có giá trị cho báo cáo, đồng thời hỗ trợ quản lý dự án PCI.
Tiến sỹ Edmund Malesky, Giáo sư Kinh tế, Đại học Duke, Hoa Kỳ, chịu trách nhiệm chính phát triển, xây dựng phương pháp nghiên cứu và trình bày các kết quả phân tích.
Tiến sĩ Malesky được hỗ trợ bởi nhóm nghiên cứu PCI gồm Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Ngọc Lan, Ban Pháp chế, VCCI. Phan Ngọc Tuấn, Nghiên cứu sinh tại trường Đại học Duke, Hoa Kỳ phụ trách phần Phụ lục 1 của báo cáo. Toàn bộ quá trình điều tra và nghiên cứu PCI được sự điều phối và hỗ trợ hiệu quả của bà Lê Thanh Hà và bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Ban Pháp chế VCCI.
Báo cáo PCI sẽ không thể thực hiện được nếu không có một quy trình khảo sát doanh nghiệp nghiêm ngặt và chất lượng, do 50 cộng tác viên thực hiện, dưới sự quản lý và điều phối của Nguyễn Lê Hà và Nguyễn Hồng Vương, Ban Pháp chế, VCCI.
Quá trình thực hiện điều tra và xây dựng báo cáo PCI 2016 còn có sự hỗ trợ nhiệt tình, hiệu quả của Bùi Linh Chi, Nguyễn Diệu Linh và Nguyễn Minh Đức, Ban Pháp chế, VCCI.
Trân trọng cảm ơn Hoạ sĩ Phạm An Hải đã cho phép chúng tôi sử dụng hình ảnh bức tranh Mùa Xuân làm ý tưởng cho thiết kế báo cáo năm nay.
Cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới các chuyên gia đã nhiệt tình đóng góp ý kiến xây dựng chỉ số PCI suốt thời gian qua: Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế cao cấp; Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, Chuyên gia kinh tế cao cấp; Ông Vũ Quốc Tuấn, Chuyên gia cao cấp; Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam; Ông Phan Trung Can, Giám đốc, Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bình Thuận; Ông Đỗ Hải Hồ, Giám đốc, Sở Ngoại vụ tỉnh Hòa Bình; Tiến sỹ Võ Hùng Dũng, Giám đốc và ông Nguyễn Phương Lam, Phó Giám đốc, Chi nhánh VCCI tại Cần Thơ; Ông Nguyễn Tiến Quang và ông Nguyễn Diễn, Phó Giám đốc, Ông Nguyễn Cường, nguyên Giám đốc, Chi nhánh VCCI tại Đà Nẵng; Ông Phạm Bình An, Giám đốc, Trung tâm Hỗ trợ Hội nhập WTO, thành phố Hồ Chí Minh; Ông Nguyễn Văn Thời, Chủ tịch, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên; Tiến sỹ Nguyễn Văn Thắng, Đại học Kinh tế Quốc dân; Ông Nguyễn Minh Phong, Phó Vụ trưởng, Phó Ban Tuyên truyền lý luận, Báo Nhân dân; Ông Nguyễn Văn Hùng, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội, Thành phố Đà Nẵng; Ông Lê Duy Bình, Giám đốc, Công ty Economica Vietnam; Ông Phan Nhật Thành, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương; Ông Đặng Quang Vinh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Các nhận định và mọi ý kiến đánh giá trình bày trong báo cáo này là của nhóm nghiên cứu, không nhất thiết đại diện cho quan điểm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hay Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, những cá nhân mà chúng tôi nêu trên hoặc các cơ quan của các tác giả.
bố khác; (ii) Tính toán 10 chỉ số thành phần và chuẩn hóa trên thang điểm 10; và (iii) Gán trọng số và tính điểm số PCI tổng hợp gồm điểm trung bình của 10 chỉ số thành phần trên thang điểm tối đa 100.
Chọn mẫu: Doanh nghiệp tham gia điều tra PCI được chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện của cộng đồng doanh nghiệp tại từng tỉnh, theo các tiêu chí: tuổi doanh nghiệp, loại hình kinh doanh và ngành nghề.
Quy mô mẫu: Tổng số doanh nghiệp tham gia phản hồi điều tra PCI năm 2016 là 10.037 doanh nghiệp, trong đó bao gồm 2.042 doanh nghiệp mới thành lập trong năm 2015 và 2016, cho thấy sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp với PCI vẫn giữ vững và ngày càng tăng.
Triển vọng kinh doanh tiếp tục khởi sắc trong năm 2016
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao: Kết quả điều tra PCI 2016 tiếp tục cho thấy những dấu hiệu khởi sắc về môi trường kinh doanh. Năm vừa qua, 65% doanh nghiệp hoạt động có lãi, đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Lần đầu tiên trong vòng 12 năm qua, quy mô vốn trung bình của doanh nghiệp đã tăng đến mức cao nhất, trung bình là 18,1 tỷ đồng, hơn gấp đôi so với quy mô năm 2006 (7,5 tỷ đồng). Tỷ lệ doanh nghiệp tuyển dụng thêm lao động cũng tăng từ 12% năm 2015 lên 13% năm 2016.
Doanh nghiệp tiếp tục lạc quan về triển vọng kinh doanh: Năm 2016, gần một nửa (48%) doanh nghiệp dự kiến sẽ mở rộng quy mô kinh doanh trong vòng 2 năm tới, tương đương mức năm 2015 (49%).
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2016
Điểm trung vị PCI 2016 tương đối ổn định: Năm nay, điểm PCI tại tỉnh trung vị của cả nước đạt 58,20 điểm, gần tương đương với mức điểm 2 năm trước. Khoảng cách giữa nhóm đầu bảng và nhóm cuối đã thu hẹp đáng kể, hiện chỉ còn 17 điểm, thấp hơn mức 19 điểm năm 2015. Xu hướng hội tụ điểm số diễn ra mạnh mẽ khi các tỉnh nhóm dưới có nhiều nỗ lực cải cách ấn tượng, kết quả của quá trình tự tìm tòi và học hỏi, áp dụng các thực tiễn tốt về cải thiện môi trường kinh doanh từ nhiều tỉnh khác. Trong khi đó, các tỉnh nhóm trên của bảng xếp hạng PCI gặp nhiều thách thức hơn trước yêu cầu tiếp tục đưa ra các sáng kiến mới, cách làm mới nhằm thúc đẩy cải cách hành chính và phát triển kinh tế.
Đà Nẵng tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng: Năm nay, Đà Nẵng tiếp tục khẳng định vị trí “dẫn đầu” trong số các tỉnh, thành phố của Việt Nam trên bảng xếp hạng PCI. Năm thứ 4 liên tiếp và lần thứ 7 trong suốt 12 năm thực hiện điều tra và công bố PCI, thành phố này được các doanh nghiệp vinh danh vị trí quán quân trên bảng xếp hạng PCI.
Các tỉnh xuất sắc khác: Bảng xếp hạng PCI 2016 chứng kiến sự đổi ngôi của Quảng Ninh và Đồng Tháp. Theo đó, Quảng Ninh đã vượt qua Đồng Tháp để giữ vị trí số 2 của bảng xếp hạng, lần đầu tiên đạt thứ hạng cao nhất của tỉnh này trong 12 năm điều tra PCI. Trong khi đó, Đồng Tháp đứng ở vị trí số 3, tiếp tục duy trì lần thứ 9 liên tiếp nằm trong nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước về chất lượng điều hành. Bất ngờ lớn nhất trên bảng xếp hạng PCI năm nay là sự quay trở lại ấn tượng của Bình Dương trong nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu, sau nhiều năm nằm trong nhóm Khá. Trên bảng xếp hạng PCI 2016, các địa phương Vĩnh Long, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc và Quảng Nam lần lượt góp mặt vào nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước.
định “Chính quyền tỉnh năng động và sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh” đã tăng từ 47% năm 2011 lên đến 57% năm 2016. Hiện tại, 70,5% doanh nghiệp tại tỉnh trung vị cho biết “Tỉnh linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi”, cao hơn 10% so với mức thấp kỷ lục của chỉ tiêu này vào năm 2011. Tỉ lệ doanh nghiệp cho biết “chính quyền tỉnh có thái độ tích cực đối với khu vực tư nhân” đã tăng thêm hơn 9 điểm phần trăm (44%) so với mức thấp kỉ lục của năm 2015.
࠸ dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Phân tích sự thay đổi qua chuỗi thời gian cho thấy các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp như tìm kiếm thông tin thị trường, tư vấn pháp luật và tìm kiếm đối tác đang dần được cải thiện về chất lượng lẫn số lượng. Tuy vậy, tư vấn pháp luật, xúc tiến thương mại và các dịch vụ về công nghệ vẫn cần những chính sách khuyến khích để khối doanh nghiệp tư nhân tham gia thị trường này nhiều hơn.
Các lĩnh vực cần cải thiện: Điều tra PCI 2016 cho thấy một số xu hướng đáng quan ngại ở các lĩnh vực sau:
࠸ Tính minh bạch: Điểm tiếp cận các loại tài liệu về kế hoạch (như ngân sách, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách ưu đãi đầu tư...) và điểm tiếp cận các tài liệu pháp lý của các doanh nghiệp ở tỉnh trung vị năm nay, lần lượt là 2,39 và 3,10 điểm đã thấp hơn mức khởi điểm điều tra PCI năm 2006 (lần lượt là 2,63 và 3,15 điểm). Đáng quan ngại là mối quan hệ cá nhân với công chức nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khả năng tiếp cận các thông tin, tài liệu quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2016, 66% doanh nghiệp tại tỉnh trung vị cho biết phải sử dụng
các mối quan hệ để tiếp cận thông tin, cao hơn 16 điểm phần trăm so với mốc thấp lịch sử năm 2008. Lưu ý rằng mức biến động của chỉ tiêu này tương đối mạnh, trồi sụt theo thời gian và chưa có xu hướng cải thiện ổn định, bền vững.
࠸ Chi phí không chính thức: Chi phí không chính thức giai đoạn 2014- 2016 chưa có dấu hiệu cải thiện so với mốc năm 2006. Năm nay, trung bình có khoảng 66% doanh nghiệp tại tỉnh trung vị cho biết thường xuyên chi trả các khoản không chính thức, cao hơn 12- điểm phần trăm so với giai đoạn 2008-2013. 9%-11% doanh nghiệp tham gia điều tra từ năm 2014-2016 cho biết các khoản chi cho riêng mục này chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của họ, cao hơn hẳn mức 6-8% giai đoạn 5 năm trước đó. Ngoài ra, doanh nghiệp cho rằng tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp vẫn phổ biến, chỉ tiêu này dù được cải thiện trong 2 năm qua (giảm từ 65% năm 2013-2014 xuống còn 58% năm 2016) nhưng vẫn cao so với kết quả điều tra các năm trước đó (2006-2012).
࠸ Chi phí thời gian thực hiện các thủ tục hành chính: Chỉ số này liên tục giảm và đang ở mức thấp lịch sử kể khi PCI được khảo sát trên toàn bộ các tỉnh, thành phố Việt Nam. Liên tục trong 3 năm qua, 2014-2016, tại tỉnh trung vị, cứ 3 doanh nghiệp thì 1 doanh nghiệp (tương ứng tỉ lệ khoảng 35%) phải dành trên 10% quỹ thời gian của mình để thực hiện thủ tục hành chính, một tỉ lệ cao kỷ lục trong khảo sát PCI. Trước đây, tỉ lệ này chỉ khoảng 1/5, hoặc đôi khi 1/ (năm 2011). Số lần thanh, kiểm tra hàng năm đối với doanh nghiệp tư nhân, tính bằng con số trung vị, tiếp tục là 1 lần, trong khi thời gian trung bình cho mỗi cuộc thanh, kiểm tra thuế năm 2016 đã tăng trở lại mức của giai đoạn 2013-2014 và 2006-2008 là 8 giờ. Nhiều giấy tờ thủ tục hơn, phải đi lại nhiều lần hơn, hiệu quả làm việc của cán bộ công chức thấp hơn, các thủ tục hành chính trên suốt chặng
Chỉ số cơ sở hạ tầng PCI năm 2016
Phương pháp luận: Chỉ số cơ sở hạ tầng hợp thành bởi 4 chỉ số thành phần, đánh giá chất lượng của: (1) Khu công nghiệp; (2) Đường giao thông; (3) Các dịch vụ năng lượng và điện thoại; và (4) Dịch vụ Internet.
Kết quả: 5 tỉnh, thành phố được các doanh nghiệp dân doanh đánh giá có chất lượng cơ sở hạ tầng tốt nhất gồm Bình Dương, Đà Nẵng, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai và Vĩnh Phúc.
Năm 2016, 77% doanh nghiệp tại tỉnh trung vị đánh giá chất lượng điện thoại là Tốt và Rất tốt, đây là lĩnh vực nhận được sự hài lòng cao nhất. Đứng thứ hai là dịch vụ cung cấp điện với tỷ lệ 69% doanh nghiệp hài lòng. Các dịch vụ tiếp theo lần lượt là cung cấp nước (63%) và dịch vụ internet (57%). Cuối cùng, trung bình chỉ có 42% doanh nghiệp bày tỏ sự hài lòng với chất lượng đường giao thông (đường bộ và cầu).
Mối quan hệ giữa chất lượng điều hành và hiệu quả kinh tế
Nhóm nghiên cứu tìm thấy bằng chứng thống kê rõ ràng về mối quan hệ chặt chẽ giữa các nỗ lực cải thiện chất lượng điều hành và sự phát triển của khu vực tư nhân. Cụ thể, một điểm cải thiện trong chỉ số PCI gốc sẽ giúp tăng tỉ lệ doanh nghiệp thành lập mới lên 2,7%. Cải thiện chất lượng điều hành kinh tế còn có các tác động dài hạn. Tăng một điểm trong PCI sẽ giúp tăng thêm doanh nghiệp thành lập mới lên 3% trong 10 năm tiếp theo.
Để thúc đẩy hoạt động kinh tế, các địa phương nên chú trọng tăng cường khả năng tiếp cận đất đai, cải thiện tính minh bạch và nâng cao chất lượng đào tạo lao động. Ngoài ra, cần cải thiện chỉ số cạnh tranh bình đẳng và giảm thiểu các chi phí không chính thức. Tất cả các lĩnh vực này đều có
tác động lớn trong ngắn hạn. Cụ thể, tăng một điểm trong chỉ số Tiếp cận đất đai hay Đào tạo lao động sẽ giúp tăng thêm 12% doanh nghiệp mới đăng ký.
Ngoài ra, hệ số nhân trong dài hạn lớn đối với lĩnh vực tiếp cận đất đai (0,15) và cạnh tranh bình đẳng (0,12) cho thấy các nỗ lực tăng cường khả năng tiếp cận đất cũng như đảm bảo tính ổn định trong sử dụng đất và xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng có tác động lớn nhất và đảm bảo lợi ích lâu dài của cộng đồng doanh nghiệp. Theo đó, một điểm cải thiện về các chỉ số thành phần này có thể giúp tăng thêm 15% số doanh nghiệp đăng ký mới trong 10 năm tới.
Tóm lại, cải thiện chất lượng điều hành kinh tế, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, thủ tục hành chính thông thoáng sẽ đem lại những lợi ích lâu dài cho các địa phương, thậm chí còn góp phần khắc phục được những hạn chế, bất lợi về vị trí địa lý hay các điều kiện kém phát triển về hạ tầng.
Kết quả điều tra PCI-FDI năm 2016 cho thấy nhiều tín hiệu tốt lành. Trong hai năm qua, những thay đổi pháp luật đã tạo ra một môi trường pháp lý thân thiện hơn đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những cải cách này đã gặt hái được thành quả, gia tăng sự lạc quan của giới đầu tư nước ngoài và triển vọng mở rộng sản xuất kinh doanh lớn hơn. Mặc dù còn sớm để kết luận, song việc chi phí gia nhập thị trường và tham nhũng vặt đã giảm bớt. Trong những lĩnh vực này, dự báo của các nhà phân tích đã đúng. Các nhà đầu tư muốn vào Việt Nam trong hai năm tới sẽ tiếp cận
vốn FDI đăng ký, đa phần các nhà đầu tư đến từ Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan - Trung Quốc, Singapore và Trung Quốc.
Các quy định về gia nhập thị trường
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần giảm đáng kể chi phí gia nhập thị trường cho doanh nghiệp.
࠸ Hơn 90% doanh nghiệp FDI có được tất cả các giấy phép cần thiết để chính thức đi vào hoạt động chỉ trong vòng ba tháng, kể từ khi bắt đầu thực hiện các thủ tục. Khoảng 40% doanh nghiệp trong năm 2015 và 2016 chính thức đi vào hoạt động trong vòng chỉ một tháng.
࠸ Đây là tỉ lệ cao nhất Việt Nam từng đạt được và tăng đáng kể so với giai đoạn 5 năm trước
Các quy định sau khi gia nhập thị trường: Vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đơn giản hóa các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sau giai đoạn thành lập.
࠸ Năm 2016, 72% doanh nghiệp cho biết họ mất hơn 5% quỹ thời gian trong năm để tìm hiểu và thực hiện các quy định hành chính, đồng nghĩa với việc mất đi lượng thời gian tương ứng đáng lẽ được dùng để quản lý và phát triển doanh nghiệp. Tỉ lệ này cao đáng kể so với mức thấp lịch sử đạt được trong năm 2010 (56%).
࠸ Dù số cuộc thanh, kiểm tra mỗi năm tương đối thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, song vẫn còn gần 5% doanh nghiệp FDI bị thanh tra, kiểm tra trên 8 lần.
࠸ Theo các doanh nghiệp FDI, đứng đầu danh mục phiền hà là các thủ tục về thuế, phí, bảo hiểm xã hội và thủ tục thông quan.
§ Dù vậy, tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn tất cả các thủ tục này đã giảm so với năm 2015. Kết quả này phần nào nhờ các nỗ lực thực hiện Nghị quyết 19/NQ-CP/2015 nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Điều này đặc biệt đúng đối với lĩnh vực hải quan, một trong những trọng tâm của Nghị quyết này.
Ưu đãi đối với Doanh nghiệp nhà nước: Dù đã giảm đáng kể so với năm 2014, nhưng vẫn có tới 68% doanh nghiệp FDI tin rằng các DNNN có nhiều đặc quyền và đặc lợi hơn.
Tiếp cận thông tin: Khả năng tiếp cận các thông tin quan trọng cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các tài liệu về quy hoạch và dự toán ngân sách, có xu hướng suy giảm theo thời gian. Các doanh nghiệp FDI gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếp cận thông tin, tài liệu, phải phụ thuộc nhiều hơn vào các mối quan hệ cá nhân cũng như gặp tình trạng chất lượng thông tin kém ngay cả khi đã lấy được thông tin.
Trải nghiệm về tham nhũng: Theo cảm nhận của các doanh nghiệp FDI năm nay, một số loại tham nhũng vặt có xu hướng giảm.
࠸ Khoảng 25% các doanh nghiệp FDI thừa nhận rằng họ đã trả tiền bôi trơn để có được giấy phép đầu tư và 13,6% trả hoa hồng khi cạnh tranh để có được các hợp đồng của cơ quan nhà nước. Cả hai tỉ lệ này đều giảm so với năm 2015.
࠸ 49% doanh nghiệp đã chi trả chi phí không chính thức khi làm thủ tục thông quan, giảm 10 điểm phần trăm so với năm 2015.