Principles & Methods of Physical Education for Effective Learning & Performance, Lecture notes of Physical Education and Motor Learning

The principles and methods of regular physical education training, focusing on the importance of self-motivation and interest, adapting to individual differences, and creating a safe and healthy learning environment. It covers topics such as the importance of consistent and persistent effort, the role of understanding the history and significance of various physical education disciplines, and the use of various teaching methods to engage students and promote skill development. The document also discusses the importance of safety and injury prevention, and the role of regular physical education in promoting overall health and well-being.

Typology: Lecture notes

2020/2021

Uploaded on 04/05/2022

11216441
11216441 🇻🇳

4 documents

1 / 9

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
TUẦN 5
HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC – PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN VÀ
CÔNG TÁC TỔ CHỨC GIẢI THỂ DỤC THỂ THAO
IV: Hệ thống các nguyên tắc và phương pháp tập luyện
IV.1: Nguyên tắc tập luyện
IV.1.1: Nguyên tắc tự giác tích cực:
Con người muốn làm một việc gì thành công cũng cần phải có tâm huyết Muốn
có được tâm huyết con người phải trải qua một quá trình nhận thức sâu sắc về lợi ích và ý
nghĩa công việc đó của cá nhân mình. Tập luyện TDTT khác với hoạt động khác là hiệu
quả không thấy ngay được mà nó có tính chất tác dụng lâu dài co nhiều năm. Vì thế, đòi
hỏi con người phải có nhận thức sâu sắc tính kiên trì bền bỉ và lòng tin vững chắc thì hiệu
quả tập luyện mới được cao. Tính tích cực trong nhận thức tự giác trong hành động
giúp con người có hứng thú trong tập luyện và biến việc tập luyện thành một nhu cầu,
một thói quen trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, các kế hoạch và yêu cầu tập luyện mới
được thực hiện một cách có nghiêm túc và có hiệu quả.
Tóm lại, giáo dục thái độ tự giác hứng thú vững chắc đối với mục đích tập
luyện chung cũng như đối với các nhiệm vụ cụ thể của từng buổi tập là điều cần thiết của
giai đoạn ban đầu tập luyện TDTT. Để thực hiện được nguyên tắc này, người học phải
xác định rõ nhiệm vụ học tập, mục đích của quá trình học và tập TDTT, từ đó tích cực, tự
giác, chủ động và sáng tạo trong học tập.
IV.1.2: Nguyên tắc xuất phát từ thực tế:
Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải lựa chọn nội dung, phương pháp tổ chức
giảng dạy-học tập cũng như lượng vận động phải dựa trên thực tế phù hợp với lứa tuổi,
giới tính, tình hình thể chất của từng người, thực tế sân bãi dụng cụ, thời tiết….
IV.1.3: Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa:
Nguyên tắc này yêu cầu tính đến đặc điểm của người tập mức tác động của
những nhiệm vụ học tập, đặc điểm lứa tuổi, giới tính, trình độbộ và cả những khác
biệt cá nhân về năng lực thể chất tinh thần.
Trong giáo dục thể chất, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng vì nó gây tác động rất
pf3
pf4
pf5
pf8
pf9

Partial preview of the text

Download Principles & Methods of Physical Education for Effective Learning & Performance and more Lecture notes Physical Education and Motor Learning in PDF only on Docsity!

TUẦN 5

HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC – PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN VÀ

CÔNG TÁC TỔ CHỨC GIẢI THỂ DỤC THỂ THAO

IV: Hệ thống các nguyên tắc và phương pháp tập luyện IV.1: Nguyên tắc tập luyện IV.1.1: Nguyên tắc tự giác tích cực: Con người muốn làm một việc gì thành công cũng cần phải có tâm huyết Muốn có được tâm huyết con người phải trải qua một quá trình nhận thức sâu sắc về lợi ích và ý nghĩa công việc đó của cá nhân mình. Tập luyện TDTT khác với hoạt động khác là hiệu quả không thấy ngay được mà nó có tính chất tác dụng lâu dài co nhiều năm. Vì thế, đòi hỏi con người phải có nhận thức sâu sắc tính kiên trì bền bỉ và lòng tin vững chắc thì hiệu quả tập luyện mới được cao. Tính tích cực trong nhận thức và tự giác trong hành động giúp con người có hứng thú trong tập luyện và biến việc tập luyện thành một nhu cầu, một thói quen trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, các kế hoạch và yêu cầu tập luyện mới được thực hiện một cách có nghiêm túc và có hiệu quả. Tóm lại, giáo dục thái độ tự giác và hứng thú vững chắc đối với mục đích tập luyện chung cũng như đối với các nhiệm vụ cụ thể của từng buổi tập là điều cần thiết của giai đoạn ban đầu tập luyện TDTT. Để thực hiện được nguyên tắc này, người học phải xác định rõ nhiệm vụ học tập, mục đích của quá trình học và tập TDTT, từ đó tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong học tập. IV.1.2: Nguyên tắc xuất phát từ thực tế: Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải lựa chọn nội dung, phương pháp tổ chức giảng dạy-học tập cũng như lượng vận động phải dựa trên thực tế phù hợp với lứa tuổi, giới tính, tình hình thể chất của từng người, thực tế sân bãi dụng cụ, thời tiết…. IV.1.3: Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa: Nguyên tắc này yêu cầu tính đến đặc điểm của người tập và mức tác động của những nhiệm vụ học tập, đặc điểm lứa tuổi, giới tính, trình độ sơ bộ và cả những khác biệt cá nhân về năng lực thể chất tinh thần. Trong giáo dục thể chất, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng vì nó gây tác động rất

mạnh mẽ đến các chức năng quan trọng trong cơ thể sống. Chỉ cần lượng vận động vượt quá mức cơ thể có thể chịu đựng được phần nào là có thể nẩy sinh nguy cơ đối với sức khỏe người tập và gây hậu quả ngược lại. Việc tuân thủ đúng mức nguyên tắc này sẽ đảm bảo được hiệu quả của giáo dục thể chất. IV.1.4: Nguyên tắc hệ thống: Tập luyện thường xuyên có hệ thống sẽ có tác dụng củng cố chắc chắn động tác cũ, dễ dàng hơn trong tiếp thu kỹ thuật mới, hoàn thiện và phát triển bài tập mới. Tính liên tục của quá trình GDTC và luân phiên hợp lý lượng vận động và nghỉ ngơi là điểm then chốt của nguyên tắc này. IV.1.5: Nguyên tắc nâng dần: Tập luyện TDTT cũng như bất kỳ một quá trình hoạt động nào khác, muốn phát triển không ngừng tăng dần những yêu cầu lượng vận động, sự thay đổi có thể ngay trong từng buổi tập hoặc từ buổi tập này sang buổi tập khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Khi áp dụng nguyên tắc này cần chú ý qui luật: Làm quen-nâng cao- thích ứng- nâng cao tiếp-thích ứng…. Cần phải lựa chọn các bài tập có độ khó thích hợp, khối lượng vận động thích hợp sau đó nâng dần từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ đến nặng giúp người tập có thể nắm vững kỹ năng và nâng cao dần thể chất. IV.1.6: Nguyên tắc phát triển toàn diện: Phải lựa chọn nội dung và sắp xếp các nội dung giảng dạy-tập luyện toàn diện, đa dạng để các bộ phận, cơ quan của cơ thể, các tố chất thể lực, các năng lực hoạt động cơ bản của người tập được phát triển một cách đồng đều. IV.1.7: Nguyên tắc an toàn: Cơ sở của nguyên tắc này là cần tránh các nguyên nhân gây ra chấn thương:

  • Do thiếu ý thức trách nhiệm, tinh thần tập luyện.
  • Coi thường tổ chức kỷ luật, chưa nắm vững được yếu lĩnh kỹ thuật động tác.
  • Không tuân thủ các nguyên tắc tập luyện.

hợp các phương pháp tập luyện TDTT để rèn luyện cơ thể.

  • Phương pháp trò chơi: Thông qua các trò chơi vận động, mà người tập vận động thể lực, tạo lập được tình thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, tình đồng đội và các phẩm chất đạo đức khác. IV.2.2:Nhóm phương pháp tập luyện để nâng cao và duy trì sức khỏe:
  • Thể dục dưỡng sinh: Các động tác về thái cực quyền, khí công, yoga… nhằm giúp người tập điều hòa chu trình hít thở, tập trung tinh thần để tăng cường sức khỏe phòng chống bệnh tập.
  • Kê đơn vận đông: Đơn vận động gồm nội dung tập, lượng vận động và những điều cần chú ý trong tập luyện. Đơn vận động do giáo viên kết hợp với y bác sỹ kê hoặc đo người tập căn cứ vào tình trạng sức khỏe của bản thân để kê. Khi thực hiện phương pháp này cần tuân thủ các nguyên tắc tập luyện cơ bản sau:
  • Đánh giá đặc điểm tình trạng sức khỏe của người tập (có bệnh gì không, giới tính, tuổi tác…)
  • Tìm hiểu để lựa chọn môn tập phù hợp với sức khỏe, sở thích và điều kiện (thời gian, công việc, khả năng tài chính…)
  • Tạo niềm tin vào tác dụng của việc tập luyện đối với sức khỏe của mình để từ đó tạo cảm hứng tập luyện.
  • Lên kế hoạch tập, chọn điạ điểm, hướng dẫn viên (nếu có) theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ nhẹ đến nặng.
  • Chuẩn bị trang thiết bị, trang phục, dụng cụ phù hợp để tập luyện.
  • Tập trung tư tưởng thực hiện chặt chẽ kế hoạch tập luyện. -Trong buổi tập chú ý đảm bảo tuần tự các bước (khởi động, trọng động, hồi phục) và sử dụng hợp lý lượng vận động.
  • Kiểm tra kết quả tập luyện thông qua trạng thái tình cảm (tâm lí), chế độ ăn ngủ, kiểm tra y học.
  • Mở rộng mối quan hệ giao lưu trong hoạt động tập luyện. V: Công tác tổ chức một giải thể thao, một số thể thức thi đấu cơ bản.

V.1: Công tác chuẩn bị tổ chức một giải thi đấu:

  1. Ra điều lệ giải để thông báo rộng rãi kịp thời cho các đối tượng tham gia có điều kiện chuẩn bị. Nội dung cơ bản của điều lệ gồm:
  • Tên giải.
  • Mục đích, ý nghĩa của giải.
  • Các nội dung thi đấu của giải.
  • Đối tượng tham gia.
  • Thể thức thi đấu.
  • Luật thi đấu được áp dụng.
  • Cách tính thành tích, khen thưởng và kỷ luật.
  • Địa điểm và thời gian thi đấu.
  • Kế hoạch họp chuyên môn.
  • Ban tổ chức giải.
  1. Thành lập các tiểu ban (tuyên truyền giáo dục, cơ sở vật chất, chuyên môn…), tiến hành các công tác chuẩn bị của từng tiểu ban.
  2. Xây dựng chương trình tổ chức giải (chương trình khai mạc, thi đấu, bế mạc…). V.2: Một số thể thức thi đấu thể thao cơ bản Mỗi môn thể thao có những thể thức thi đấu riêng. Ở đây chi đề cập tới một số môn thể thao thi đấu cơ bản dành cho các môn thể thao phổ biến như các môn bóng….. V.2.1. Thể thức thi đấu loại trực tiếp:
  • Nguyên tắc của hình thức thi đấu này là đội nào thua bị loại: Thể thức này thường được áp dụng trong các giải đấu có nhiều đội tham gia hơn dự kiến, các giải tennis hay vòng trong của các giải đấu lớn.
  • Ưu điểm của hình thức thi đấu này là: số trận đấu rút xuống, thời gian thi đầu ít đi sẽ giảm được kinh phi thi đấu và tổ chức.
  • Nhược điểm: là không đánh giá được chính xác trình độ chuyên môn của từng đội và hình thức thi đấu này mang nhiều yếu tố may rủi (bốc thăm, không có cơ hội sửa
  • Công thức tính loại trực tiếp 2 lần thua Nếu số đội có A # 2 n thì ta vẽ sơ đồ như loại trực tiếp 1 lần thua. Nếu số đội có A = 2n thì^ ta vẽ vòng đầu thi đấu đối kháng, đội nào thắng ở lại Sơ đồ 1, đội nào thua chuyển sang sơ đồ 2 của vòng mới. Ví dụ: Vẽ sơ đồ thi đấu trực tiếp 2 lần thua của 8 đội. Ta thấy 8 = 2n^ nên ta có sơ đồ sau: Sơ đồ 1 1 2 2 2 3 4 4 5 5 5 Vô địch

Sơ đồ 2 4 1 1 1 3 8 6 6 7 8 8 V.2.2: Thể thức thi đấu vòng tròn tính điểm:

  • Nguyên tắc: Các đội trong giải đều được thi đấu với nhau, có hai loại vòng tròn: vòng tròn đơn và vòng tròn kép. Thành tích được tính bằng điểm. Thể thức này thường được vận dụng cho các giải bóng đá vô địch quốc gia.
  • Ưu điểm: Đánh giá chính xác trình độ chuyên môn của các đội. Hạn chế được yếu tố may rủi trong bốc thăm và thi đấu. Số trận đấu nhiều phục vụ tốt cho nhu cầu vui chơi giải trí.
  • Nhược điểm: Thời gian tổ chức dài, công tác tổ chức phức tạp và không có trận chung kết.
  • Cách tính số vòng đấu và trận đấu:
  • Vòng đấu (V): Nếu số đội (a) tham gia là chẵn thì V = a – 1 và nếu số đội tham gia là lẻ thì V = a
  • Tổng số trận đấu (Y) là: Y = a(a-1):2 nếu thi đấu vòng tròn đơn. Y = a(a-1) nếu thi đấu vòng tròn kép. + Cách vẽ biểu đồ thi đấu: Nếu a = 6 1 – 6 1 - 5 1 - 4 1 – 3 1 – 2 2 - 5 6 – 4 5 – 3 4 – 2 3 – 6 3 - 4 2 - 3 6 - 2 5 – 6 4 - 5 Nếu a = 5 0 - 5 0 - 4 0 - 3 0 – 2 0 - 1 1 – 4 5 – 3 4 – 2 3 – 1 2 – 5 2 - 3 1 - 2 5 - 1 4 – 5 3 - 4
  1. Thể thức thi đấu hỗn hợp: Là thể thức thi đấu vận dụng cả hai hình thức thi đấu loại trực tiếp và vòng tròn.