Download trade law lecture note and more Study notes Law in PDF only on Docsity!
BUỔI 1.
CÂU HỎI
- Tên gọi o Hiện nay tại Việt Nam những tên gọi nào thường được sử dụng cho môn học? o Nêu nội hàm của các tên gọi trên, tên gọi nào chính xác nhất về mặt nội hàm? o Tên gọi nào được sử dụng phổ biến nhất? Nguyên nhân dẫn đến tính phổ biến của nó? o Tên gọi nào chính xác nhất? Tại sao
- Bản chất o Nêu những quan điểm khác nhau chủ yếu nhất về bản chất LSS? o Nêu những lập luận bảo vệ quan điểm cho rằng LSS là một khoa học độc lập? Lập luận nào quan trọng nhất? o Nêu quan điểm nhận định của anh chị cho rằng LSS chỉ là một phương pháp nghiên cứu khoa học?
- Đối tượng nghiên cứu o Hãy nêu các quan điểm về đối tượng nghiên cứu của LSS? Quan điểm nào là chính xác nhất? o Quan điểm nào về đối tượng nghiên cứu của LSS được sử dụng phổ biến tại Việt Nam? o Nêu nội dung của quan điểm của giáo sư Michael Bogdan về đối tượng nghiên cứu của LSS? o Nêu các đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu của LSS? o Chứng minh rằng, đối tượng nghiên cứu của LSS có phạm vi vô cùng rộng? o Tại sao đối tượng nghiên cứu của luật so sánh luôn thay đổi o Chứng minh rằng, đối tượng nghiên cứu của LSS luôn mang tính hướng ngoại o Nêu mối liên hệ giữa LSS và khoa học nghiên cứu pháp luật nước ngoài o Thế nào là nghiên cứu dưới góc độ lý luận, góc độ thực tiễn. Tại sao đối tượng nghiên cứu của LSS luôn phải được nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn
o Trong các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của LSS, đặc điểm nào hỗ trợ nhiều nhất đối với hoạt động lập phá pcủa QG? Tại sao. *-------------- BUỔI 2 Bài 1 ) Các tên gọi chủ yếu
- So sánh luật
- Luật so sánh
- Luật học so sánh *) Nội hàm hoàn toàn khác nhau
- So sánh luật: dùng để chỉ phương pháp so sánh pháp luật/ hoạt động so sánh pháp luật
- Luật so sánh: có thể gây hiểu lầm về sự tồn tại của ngành luật so sánh
- Luật học so sánh: nội hàm bao quát và chính xác hơn cả. Khoa học luật so sánh là nghiên cứu, so sánh, đánh giá tổng thể các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới. *) Luật so sánh – tên gọi phổ biến nhất Khái niệm luật so sánh được sử dụng sớm hơn thuật ngữ luật học so sánh bởi các quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này. Cácc quốc gia tiếp nhận tên gọi khi du nhập khoa học này về trong nước. Việt Nam du nhập ngành học Luật so sánh từ Thụy Điển. [Trước đây Thụy Điển có dự án hỗ trợ các quốc gia đang và chậm phát triển trong quá trình hội nhập. Để phát triển hệ thống pháp luật, hầu như ko có quốc gia nào trên thế giới có thể tự mình xây dựng hệ thống pháp luật của mình mà ko học hỏi từ các quốc gia khác. Đại học Luật Hà Nội & Đại học Luật TPHCM nhận được tài trợ từ Thụy Điển. Điều kiện là phải đưa môn Luật so sánh đưa vào môn giảng dạy]. *) Trong các tên gọi của môn học, thì tên gọi nào là chính xác nhất Nhận định
- Luật so sánh là tên gọi phổ biến nhất vì có nội hàm chính xác nhất
Tuy nhiên, các quan điểm này không phủ nhận nhau. Chỉ khác nhau về 2 khía cạnh: đối tượng nghiên cứu họ đưa ra là rộng hay hẹp, sử dụng phương pháp khái quát hóa hay liệt kê. V/d:…. Không có quan điểm nào về đối tượng nghiên cứu của luật so sánh là chính xác nhất. Quan điểm được thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam là: (trang 7, giáo trình) Quan điểm Michael Bogdan.
- Nhóm 1: Tìm ra được các điểm giống và khác giữa các hệ thống pháp luật được so sánh.
- Nhóm 2: Lý giải được nguyên nhân của sự tương đồng, khác biệt (mối liên hệ giữa các hệ thống pháp luật được so sánh). Đánh giá được các giả thiết pháp lý được sử dụng trong các xã hội khác nhau. Dự liệu khả năng cấy ghép quy định pháp luật của xã hội này vào xã hội khác. V/d: Hiện nay, vấn đề đặt ra là hành lang pháp lý cho Bitcoin. Các chính phủ hiện nay đang rất lúng túng. V/d: Vấn đề hôn nhân đồng giới. V.d: Quyền dành cho robot. Dự án luật nào cũng phải có tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài. Phải lý giải nguyên nhân, đánh giá giải pháp nào là tối ưu hơn.
- Nhóm 3: giải quyết những vấn đề mang tính phương pháp luận nảy sinh trong tiến hành quá trình so sánh pháp luật, bao gồm phương pháp luận nghiên cứu pháp luật nước ngoài (Câu hỏi ôn tập: Tại sao trong nhóm đối tượng thứ ba lại đặt ra vấn đề nghiên cứu phương pháp luận nghiên cứu pháp luật nước ngoài) Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của LSS
- Vô cùng rộng : Chứng minh rằng, đối tượng nghiên cứu của LSS vô cùng rộng? => Chứng minh dựa trên quan điểm về đối tượng nghiên cứu của Michael Bogdan o Trong các công trình luật so sánh, bao giờ cũng phải nghiên cứu ít nhất 2 hệ thống pháp luật khác nhau. Quan điểm của các quốc gia về hệ thống pháp luật là không giống nhau. V/d: quan điểm của hệ thống pháp luật thành văn (Châu Âu lục địa, Việt Nam..: thông tư, nghị định…) là khác với quan điểm của hệ thống pháp luật bất thành văn (Pháp luật Anh..: án lệ, lẽ công bằng…) hoặc quan điểm của hệ thống
pháp luật của các nước hồi giáo (không thể bỏ qua được quy phạm trong kinh thánh…) o Để lý giải được sự tương đồng, khác biệt giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, còn phải lý giải được sự khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị, tôn giáo.. giữa các quốc gia.
- Biến đổi không ngừng : Chứng minh: o Pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, tồn tại, vận động sẽ phụ thuộc vào kiến trúc hạ tầng…Kiến trúc hạ tầng luôn biến đổi không ngừng => kiến trúc thượng tầng biến đổi…
- Luôn mang tính hướng ngoại : Chứng minh: o Trong một công trình nghiên cứu của luật so sánh, bao giờ cũng có ít nhất một hệ thống pháp luật nước ngoài. o Mục tiêu dẫn đến sự ra đời của khoa học luật so sánh là muốn hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia dựa trên nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài. Mối quan hệ giữa khoa học nghiên cứu pháp luật nước ngoài và luật so sánh: là 2 khoa học độc lập nhau, nhưng có sự bổ trợ cho nhau. Khoa học nghiên cứu pháp luật nước ngoài giúp cho khoa học luật so sánh [V/d: Để so sánh chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS Việt Nam với chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS Pháp, ngoài việc nghiên cứu trực tiếp các quy định pháp luật Pháp, còn có thể nghiên cứu tài liệu gián tiếp (công trình nghiên cứu của người khác). Đồng thời, tri thức của luật so sánh làm cho hiểu biết về pháp luật nước ngoài tốt hơn. Nhận định: 1) Chỉ pháp luật nước ngoài mới là đối tượng nghiên cứu của LSS? 2) Pháp luật của quốc gia người nghiên cứu không thể trở thành đối tượng nghiên cứu của LSS? 3) Luật so sánh là khoa học nghiên cứu pháp luật nước ngoài? - Lý luận & thực tiễn: o Nghiên cứu dưới góc độ lý luận tức là tiến hành nghiên cứu, so sánh, đánh giá về nội dung điều chỉnh của quy định pháp luật của hệ thống pháp luật
tháng 8 thành công, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huy động được nhiều trí thức yêu nước (được đào tạo từ Pháp về) vào công cuộc xây dựng đất nước. Đất nước thống nhất 1975, Việt Nam giống các nước XHCN, rập khuôn mô hình pháp luật của Liên Xô. Sau thời kỳ tiến lên XHCN, dấu ấn của Pháp còn lại không nhiều. Nhà nước ko thừa nhận sở hữu tư nhân. Khi khối XHCN rơi vào khủng hoảng => Việt Nam đổi mới => đa dạng hóa sở hữu => chấp nhận sở hữu tư nhân, nền kinh tế thị trường. Tại thời điểm 1995, khi xây dựng Bộ luật dân sự đầu tiên, lúc đó đội ngũ học ở Pháp vẫn còn, đã lựa chọn BLDS Pháp để học hỏi (Do thời điểm đó Liên Xô đã sụp đổ, ngành luật dân sự của Liên Xô không phát triển). (Hiện tại, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng pháp luật của Nhật. Cách thức tiếp thụ luật dân sự, án lệ cũng thông qua Nhật…Mối liên hệ giữa Việt Nam & Nhật từ chính trị, văn hóa, giáo dục,… là lớn (V.d: ODA Nhật, doanh nghiệp Nhật vào Việt Nam đầu tư nhiều vào Việt Nam, công nghệ Nhật áp dụng ở Việt Nam: chống ngập, metro, đường xá, hầm…, Vợ chồng Nhật Hoàng chính thức thăm Việt Nam, thắt chặt mối liên hệ về chính trị với Việt Nam, thị trường Nhật Bản tiếp nhận lao động Việt Nam…)). Lưu ý
- Phương pháp này thường được sử dụng cho các công trình so sánh, tiến hành so sánh các hệ thống pháp luật một cách tổng quan hoặc đi vào lý giải các vấn đề thuộc về bản chất của các hệ thống pháp luật. b. Phương pháp so sánh quy phạm & c. Phương pháp so sánh chức năng Phương pháp so sánh quy phạm (phương pháp so sánh văn bản) Phương pháp so sánh chức năng Cách hiểu Là phương pháp so sánh quy phạm, chế định, văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật này với quy phạm, chế định, văn bản pháp luật tương ứng trong hệ thống pháp luật khác Là phương pháp so sánh tổng thể các giải pháp được sử dụng trong các xã hội khác nhau để cùng giải quyết một quan hệ xã hội. (Các giải pháp có thể là giải
V.d về cách đặt vấn đề theo phương pháp so sánh quy phạm: So sánh chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS Việt Nam & BLDS Pháp. pháp pháp lý, giải pháp tôn giáo, giải pháp đạo đức…) V/d về cách đặt vấn đề theo phương pháp so sánh chức năng: So sánh quan hệ (vấn đề) hôn nhân đồng giới trong ở Mỹ & Canada. Điều kiện sử dụng Để áp dụng được phương pháp so sánh này, thì điều kiện tiên quyết là phải có được các quy phạm, chế định, văn bản pháp luật tương ứng trong các hệ thống pháp luật khác. V/d: để so sánh chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của BLDS Việt Nam & BLDS Pháp theo phương pháp này, thì điều kiện tiên quyết là ở cả BLDS Việt Nam & BLDS Pháp đều phải có chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. V/d: không thể áp dụng phương pháp này để so sánh Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam với Pháp, do bởi trong pháp luật Pháp không có Luật hôn nhân & gia đình riêng, mà quan hệ hôn nhân & gia đình được quy định trong BLDS. Trong mọi trường hợp đều có thể sử dụng phương pháp này. Quy trình tiến hành Đi từ pháp luật (phải tìm được các cặp quy phạm, chế định, văn bản trước đã) đến quan hệ xã hội được điều chỉnh. V/d: So sánh BLDS Pháp & BLDS Việt Nam:
- Đầu tiên là tìm đến BLDS Pháp & BLDS Việt Nam
- Sau đó xem BLDS Việt Nam Đặt quan hệ xã hội, vấn đề xã hội lên trước, sau đó xem quan hệ, vấn đề xã hội đó có được pháp luật điều chỉnh không => đến pháp luật (như vậy là ngược với phương pháp so sánh quy phạm)
sinh…) Kết luận: Mỗi phương pháp đều có giá trị, ưu điểm, hạn chế riêng, nên không phương pháp nào quan trọng nhất. Việc sử dụng phương pháp nào & bao nhiêu phương pháp sẽ do chính người tiến hành quyết định dựa trên 2 nhóm yếu tố sau:
- Nhóm 1: Các yếu tố thuộc công trình so sánh, v/d: đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu…
- Nhóm 2: Các yếu tố thuộc về bản thân người tiến hành so sánh. v/d: trình độ, khả năng, mục đích, truyền thống pháp luật được đào tạo… 2. BẢN CHẤT CỦA LUẬT SO SÁNH Luật so sánh là phương pháp nghiên cứu, môn học hay khoa học? a. Luật so sánh là một khoa học
- Nhiều ngành khoa học xã hội khác khi sử dụng phương pháp so sánh một cách rộng rãi, kết quả đã cho ra đời các khoa học mới: v/d: triết học so sánh, chính trị học so sánh, xã hội học so sánh… => Do vậy khi áp dụng phương pháp so sánh trong lĩnh vực pháp luật thì tất yếu sẽ cho ra đời khoa học luật so sánh
- Luật so sánh bao giờ cũng tiến hành so sánh 2 hệ thống pháp luật khác nhau trở lên
- Luật so sánh không dừng lại ở việc tìm ra những điểm giống nhau & khác nhau giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, mà luật so sánh còn lý giải nguyên nhân, đánh giá các khả năng, dự liệu khả năng cấy ghép… **III. VAI TRÒ CỦA LSS
- Tạo cơ sở cho sự hiểu biết về văn hoá pháp lý nói chung
- Tạo cơ sở để hiểu biết tốt hơn về pháp luật quốc gia mình
- Đối với hoạt động lập pháp** Câu hỏi
- Nêu các khía cạnh mà LSS có thể hỗ trợ cho hoạt động lập pháp?
- Giúp hình thành nên ý tưởng ban hành mới, sửa đổi pháp luật trong nước
- Cung cấp hệ thống giải pháp pháp lý mà nước ngoài sử dụng để giải quyết vấn đề trên để cơ quan lập pháp lựa chọn
- Giúp cơ quan lập pháp nhìn thấy được tác động đằng sau mỗi giải pháp nếu đưa vào áp dụng trong nước, để tránh được những rủi ro không lường trước được
- Nhập khẩu thuật ngữ & khái niệm chuyên ngành
- Tại sao LSS lại giúp cho cơ quan lập pháp trong nước dự liệu trước được tác động của giải pháp pháp lý từ nước ngoài nếu tiếp thu về pháp luật trong nước
- LSS chia làm 2 nhánh (LSS học thuật & LSS lập pháp). Đ/v LSS lập pháp thì luôn được nghiên cứu dưới góc độ lý luận & thực tiễn.
- Có mấy cách thức tiếp thu pháp luật nước ngoài & nêu các điều kiện cơ bản để tiến hành từng cách thức trên
- Lưu ý: một trong những thành quả mà LSS làm được cho đến ngày nay, là hình thành nên học thuyết cấy ghép pháp luật nước ngoài (tiếp thu pháp luật nước ngoài): Tiếp thu trực tiếp (tiếp thu nguyên vẹn – sao chép toàn bộ) & Tiếp thu gián tiếp (tiếp thu có chọn lọc – chỉ tiếp thu một phần giải pháp, biến đổi giải pháp để phù hợp với điều kiện trong nước). Vì điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… của các quốc gia là khác nhau, nên hình thức tiếp thu phổ biến hiện nay là hình thức tiếp thu gián tiếp.
- Quốc gia tiếp thu toàn bộ pháp luật nước ngoài khi cơ sở hạ tầng (điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…) của các quốc gia là tương đồng + mục đích của nhà nước là giống nhau + các quốc gia đó cùng nằm trong một truyền thống pháp luật. Khi một trong 3 điều kiện trên ko đảm bảo, thì quốc gia sẽ chuyển sang cấy ghép (tiếp thu) gián tiếp.
**4. Đối với hài hòa, nhất thể hóa pháp luật
- Đối với giải thích pháp luật nước ngoài
- Đối với Tư pháp quốc tế
- Đối với Công pháp quốc tế Định hướng**
- Phân biệt nguồn luật với nguồn thông tin về hệ thống pháp luật nước ngoài?
- Ưu điểm: o độ tin cậy cao o dựa vào nguồn này, người nghiên cứu có thể nắm được toàn bộ nội dung điều chỉnh của nhà nước nước ngoài đối với vấn đề mình quan tâm (còn nếu thông qua công trình nghiên cứu, thì chỉ tiếp cận được một phần của vấn đề)
- Nhược điểm o Cực kỳ khó xử lý nguồn này do rào cản về ngôn ngữ và rào cản về kỹ thuật pháp lý. o Nếu chỉ dựa trên nguồn luật, thì khó nắm bắt được ý đồ đằng sau của nhà nước nước ngoài khi ban hành nguồn luật đó. b. Nguồn thông tin thứ yếu
- Ưu điểm: o Dễ tiếp cận, dễ hiểu o Tiếp cận được nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề mà mình nghiên cứu
- Nhược điểm: o Sản phẩm nghiên cứu của cá nhân nào đó, trong khoa học thì người ta được đưa ra quan điểm của người ta => có sự đan xen giữa kiến thức khách quan và đánh giá chủ quan của tác giả đối với hệ thống pháp luật nước ngoài. Chất lượng công trình phụ thuộc vào trình độ, khả năng, định kiến của tác giả => có thể không khách quan. o Khi sử dụng nguồn thông tin này, buộc phải tránh ảnh hưởng bởi quan điểm chủ quan của người nghiên cứu, phải kiểm chứng lại bằng nguồn thông tin chủ yếu & quan điểm khác.
- Loại nguồn thông tin nào quan trọng hơn? Nhận định: Nguồn thông tin chủ yếu quan trọng hơn nguồn thông tin thứ yếu o Sai o Mỗi loại nguồn thông tin đều có những giá trị, ưu điểm & hạn chế riêng, do đó ko có nguồn nào là quan trọng hơn.
- Nên sử dụng bao nhiêu loại nguồn thông tin trong một công trình LSS? Dựa trên 2 nhóm tiêu chí cơ bản, để quyết định sử dụng nguồn thông tin nào
- Nhóm tiêu chí về công trình nghiên cứu
- Nhóm tiêu chí về bản thân người tiến hành nghiên cứu
BÀI 3
CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CHỦ YẾU TRÊN THẾ GIỚI
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÂN NHÓM CÁC
HTPL TRÊN THẾ GIỚI
1. Một số thuật ngữ Định hướng
- Nêu cách hiểu của thuật ngữ a) Hệ thống pháp luật b) Truyền thống pháp luật c) Gia đình pháp luật
- Nêu sự khác nhau về mặt nội hàm của thuật ngữ “truyền thống pháp luật” và “gia đình pháp luật” *) Hệ thống pháp luật: Trong hoạt động phân nhóm của LSSS, thuật ngữ “hệ thống pháp luật” là tên gọi mang tính quy ước, dùng để chỉ một nhóm các hệ thống pháp luật của các quốc gia hoàn toàn độc lập với nhau, nhưng giữa chúng có chung một số đặc điểm nhất định, chẳng hạn: về nguồn gốc hình thành, hình thức pháp luật, các chế định pháp luật cơ bản… *) Truyền thống pháp luật vs Gia đình pháp luật Điểm giống: 2 thuật ngữ này đều dùng để chỉ một nhóm các hệ thống pháp luật của các quốc gia hoàn toàn độc lập với nhau, nhưng giữa chúng có chung một số đặc điểm nhất định. Tuy nhiên, truyền thống pháp luật <> gia đình pháp luật ở nguyên nhân nào khiến cho pháp luật của các quốc gia là giống nhau: Truyền thống pháp luật Gia đình pháp luật Nguyên nhân dẫn đến những điểm tương đồng của các HTPLQG trong nhóm này là do sự tương đồng về cơ sở hạ tầng của pháp luật (kinh tế, chính Nguyên nhân dẫn đến những điểm tương đồng trong nhóm này là do bị chi phối chung bởi một nguồn gốc pháp luật (một trong các hệ thống pháp luật
- Vai trò làm luật của thẩm phán
- Sự phân chia cấu trúc hệ thống pháp luật thành lĩnh vực luật công và lĩnh vực luật tư
- Mối tương quan giữa luật nội dung & luật tố tụng
- Pháp điển hóa Lưu ý: Đây là 6 tiêu chí thường được sử dụng, chứ ko phải luôn được sử dụng. & đây cũng ko phải là 6 tiêu chí quan trọng nhất. *) Kết quả phân chia pháp luật thế giới Mặc dù chưa có sự thống nhất về sự phân nhóm, nhưng quan điểm phân chia pháp luật thế giới thành 4 hệ thống chủ yếu sau
- Châu Âu lục địa
- Thông luật
- XHCN
- Hồi giáo Được chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam. Kết luận: Mỗi tiêu chí đều có giá trị riêng đ/v hoạt động phân nhóm, do đó không tiêu chí nào là quan trọng nhất. Việc sử dụng tiêu chí nào, bao nhiêu tiêu chí, do chính người tiến hành phân nhóm quyết định, dựa trên 2 yếu tố chủ yếu:
- Nhóm tiêu chí về công trình nghiên cứu
- Nhóm tiêu chí về bản thân người tiến hành nghiên cứu Về nhà nghiên cứu lập bảng dưới đây HTPL Châu Âu lục địa
HTPL
Thông luật
HTPL
XHCN
HTPL Hồi giáo Nguồn gốc pháp luật Hình thức pháp luật Vai trò làm luật của thẩm phán Phân chia lĩnh vực luật công, lĩnh vực luật tư Mối tương quan
giữa luật nội dung và tố tụng Pháp điển hóa II. PHÂN NHÓM CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
*1. Nguồn gốc pháp luật ) Con đường tiếp thu + Con đường tiếp thu bắt buộc qua con đường chiến tranh xâm lược của Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đế quốc Anh…=> Nền pháp luật trình độ thấp tiếp thu hệ thống pháp luật trình độ tiến bộ hơn nên sau khi giành độc lập vẫn chấp nhận các quy định này + Con đường tiếp thu tự nguyện do yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa => phải hài hòa hóa hệ thống pháp luật, tiến gần pháp luật chung thế giới. *) Phân nhóm: giáo trình Lưu ý nhóm HTPL có nguồn gốc từ Luật La Mã
- Hệ thống pháp luật các quốc gia châu Âu lục địa Hầu hết các quốc gia ở châu Âu lục địa đều chịu sự đô hộ kéo dài của Đế quốc La Mã. Kể từ khi La Mã tan rã và chấm dứt sự thống trị => Luật La Mã cũng biến mất luôn. Châu Âu rơi vào đêm trường Trung Cổ. Hệ thống pháp luật của các quốc gia ở châu Âu lục địa là những hệ thống pháp luật không thống nhất, sử dụng nhiều nguồn luật khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xã hội: tập quán, luật của giáo hội, luật hồi giáo, sắc lệnh của nhà vua… Sau đó các nhà nước Châu Âu liên kết lại với nhau để chống lại đế quốc Hồi giáo. Nhiều tầng lớp xã hội mới (tầng lớp giai cấp tư sản, tiểu tư sản…), quan hệ xã hội mới (quan hệ mua bán hàng hóa…) xuất hiện, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật điều chỉnh. Thế kỷ X, ở châu Âu bắt đầu xuất hiện các trường đại học. Các giáo sư ở các trường đại học ngoài công tác giảng dạy, còn cố gắng tìm cách phục dựng, tìm lại các bản thất lạc của công trình pháp luật La Mã. Đa số các trường đại học Châu Âu đem pháp luật La Mã vào giảng dạy cho các sinh viên của mình. Sau khi tốt nghiệp, các sinh viên này trở thành những người giúp việc cho Nhà vua, những thành viên trong cơ quan nghị viện, thẩm phán, những người đấu tranh cho phong trào dân chủ…=> có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật. Do vậy, khi các nước châu Âu lục địa thống nhất pháp luật, do vai trò của những
tế, án lệ vẫn tồn tại trong các hệ thống pháp luật các nước này. Hiện tại, một số nước như Việt Nam, Đức, Nhật đã thừa nhận án lệ. Trung Quốc, Pháp thì chưa thừa nhận.
- Ngược lại, trong hệ thống pháp luật Anh, trước đây, vai trò của luật thành văn rất mờ nhạt. Ngày nay, vai trò của luật thành văn ngày càng có giá trị.
- Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện tại, các hệ thống pháp luật đã & đang có xu hướng sử dụng đồng thời cả luật thành văn và án lệ do bởi luật thành văn & án lệ, đều có ưu điểm, nhược điểm riêng & bổ khuyết cho nhau. 2) Hãy đánh giá luật thành văn và án lệ thông qua 2 tiêu chí đó là tính toàn diện và tính linh hoạt Luật thành văn Án lệ Tính toàn diện Nhà lập pháp cố gắng dự liệu mọi khả năng có thể xảy ra, đưa ra khung pháp lý để dựa vào từng trường hợp cụ thể mà cơ quan xét xử xét xử vụ án. Kém toàn diện hơn, chỉ áp dụng được khi có sự tương tự về mặt tình tiết với án lệ. V/d: một án lệ của Anh đã từng tuyên phạt tù 12 tuần đối với hành vi quan hệ nơi công cộng + vào ban ngày
- có sự chứng kiến của trẻ em. Để áp dụng được án lệ này đ/v những vụ án sau, phải thỏa mãn được sự tương tự về mặt tình tiết, thiếu đi tình tiết quan trọng nào, thì bản chất sự việc đã khác. Tính linh hoạt Để ra được một văn bản pháp luật, cần phải trải qua nhiều thủ tục: dự thảo, lấy ý kiến, trình quốc hội thông qua, chủ tịch nước ký ban hành… Có Khi pháp luật gặp chỗ hở, hoặc ko đủ, hoặc ko rõ ràng, thì Thẩm phán được toàn quyền giải thích pháp luật, đặt ra quy tắc pháp
luật rồi còn phải đợi Nghị định, thông tư => Khi văn bản pháp luật được ban hành, hoàn cảnh mới lại xuất hiện, mà luật chưa kịp cập nhật, nên có thể xảy ra trường hợp ko có luật để điều chỉnh quan hệ pháp luật. V/d: vụ việc trước đây ở Việt Nam, một người nam chuyển giới nữ bị hiếp dâm, tuy nhiên, Thẩm phán lúng túng trong việc áp dụng pháp luật do không có quy định cụ thể, rõ ràng trong luật luật mới. 3) Dựa trên tiêu chí này, chia HTPL thế giới thành 2 nhóm o Hệ thống pháp luật thành văn: Hệ thống pháp luật châu Âu lục địa & hệ thống pháp luật XHCN: vì trong 2 hệ thống pháp luật này [luật thành văn chiếm chủ yếu]. o Hệ thống pháp luật bất thành văn: Hệ thống pháp luật Thông luật & Hệ thống pháp luật Hồi giáo [luật bất thành văn chiếm chủ yếu] Hệ thống pháp luật án lệ: Hệ thống pháp luật Thông luật Khác biệt giữa án lệ trong Hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật XHCN với Hệ thống pháp lệ án lệ Án lệ trong HTPL thành văn Án lệ chỉ là nguồn luật bổ sung (Luật thành văn là nguồn luật chủ yếu, quan trọng nhất) Án lệ trong HTPL án lệ Trong cấu trúc nguồn luật án lệ làn guồn luật quan trọng hơn luật thành văn Mục đích Vai trò Thống nhất việc áp dụng pháp luật thành văn, hướng dẫn đường lối xử lý đ/v các vụ việc, đảm bảo tính công bằng của hoạt động xét xử Thẩm phán toàn quyền đặt ra án lệ, đặt ra quy tắc pháp lý mới mà luật thành văn không có.