Physical education lessons, Lecture notes of Physical Education and Motor Learning

the lists of definitions of physical education in Vietnam

Typology: Lecture notes

2020/2021

Uploaded on 04/05/2022

11216441
11216441 🇻🇳

4 documents

1 / 18

Toggle sidebar

This page cannot be seen from the preview

Don't miss anything!

bg1
TUẦN 2: HỆ THỐNG CÁC KHÁI NIỆM VỀ TDTT
I.Hệ thống các khái niệm cơ bản về TDTT
I.1: TDTT
* Khái niệm: TDTT là bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại,tổng thể
các giá trị vật chất tinh thần của hội, được sáng tạo nên sử dụng hợp nhằm
hoàn thiện thể chất cho con người.
Chúng ta tiếp cận khái niệm TDTT thông qua ba nhận định sau:
- TDTT là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo trong xã hội.
- TDTT là một loại hình hoạt động đặc biệt.
- TDTT là kết quả của hoạt động thể lực tích cực và khoa học.
I.1.1: TDTT là bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại.
* Khái niệm về văn hóa:
Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch
sử.
Hiểu một cách đơn giản văn hóa là tri thức, trình độ của con người được biểu hiện
trong xã hội; là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần; là cái
đẹp, bản sắc dân tộc hay sự tiến bộ văn minh được sáng tạo trong quá trình phát triển loài
người.
Mỗi một hình thái kinh tế hội được xác định bởi một nền văn hóa của từng
quốc gia, từng dân tộc, sự chuyển động của văn hóa được quyết định bởi sự biến chuyển
của nền kinh tế xã hội và phát huy trên tính kế thừa của nền văn hóa trong quá khứ.
Văn hóa tầm quan trọng đặc biệt trong tiến trình phát triển của mỗi dân tộc.
Người ta nói: Sai lầm của một bác sỹ giết chết một người, sai lầm củ một nền giáo dục
giết chết một thế hệ, sai lầm của một nền văn hóa giết chế một dân tộc”. Con người muốn
sống hòa bình thì phải hiểu văn hóa của nhau. Văn hóa có mặt trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống hội: Phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, kiến trúc, điện ảnh, ẩm
thực, kinh doanh… Văn hóa trải rộng bao trùm mọi hoạt động của cuộc sống con
người. Văn hóa giúp cho cuộc sống của dân tộc này khác dân tộc kia, làm cho đời sống
của loài người trở nên phong phú và đa dạng hơn.
pf3
pf4
pf5
pf8
pf9
pfa
pfd
pfe
pff
pf12

Partial preview of the text

Download Physical education lessons and more Lecture notes Physical Education and Motor Learning in PDF only on Docsity!

TUẦN 2: HỆ THỐNG CÁC KHÁI NIỆM VỀ TDTT I.Hệ thống các khái niệm cơ bản về TDTT I.1: TDTT

  • Khái niệm: TDTT là bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại, là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, được sáng tạo nên và sử dụng hợp lý nhằm hoàn thiện thể chất cho con người. Chúng ta tiếp cận khái niệm TDTT thông qua ba nhận định sau:
  • TDTT là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo trong xã hội.
  • TDTT là một loại hình hoạt động đặc biệt.
  • TDTT là kết quả của hoạt động thể lực tích cực và khoa học. I.1.1: TDTT là bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại. * Khái niệm về văn hóa: Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. Hiểu một cách đơn giản văn hóa là tri thức, trình độ của con người được biểu hiện trong xã hội; là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần; là cái đẹp, bản sắc dân tộc hay sự tiến bộ văn minh được sáng tạo trong quá trình phát triển loài người. Mỗi một hình thái kinh tế xã hội được xác định bởi một nền văn hóa của từng quốc gia, từng dân tộc, sự chuyển động của văn hóa được quyết định bởi sự biến chuyển của nền kinh tế xã hội và phát huy trên tính kế thừa của nền văn hóa trong quá khứ. Văn hóa có tầm quan trọng đặc biệt trong tiến trình phát triển của mỗi dân tộc. Người ta nói: Sai lầm của một bác sỹ giết chết một người, sai lầm củ một nền giáo dục giết chết một thế hệ, sai lầm của một nền văn hóa giết chế một dân tộc”. Con người muốn sống hòa bình thì phải hiểu văn hóa của nhau. Văn hóa có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, kiến trúc, điện ảnh, ẩm thực, kinh doanh… Văn hóa trải rộng và bao trùm mọi hoạt động của cuộc sống con người. Văn hóa giúp cho cuộc sống của dân tộc này khác dân tộc kia, làm cho đời sống của loài người trở nên phong phú và đa dạng hơn.

Văn hóa không hoàn toàn đồng nghĩa với học thức và địa vị xã hội. Quá trình nhận thức văn hóa, tiếp cận với văn hóa là một quá trình hướng tới cái đẹp, sự thánh thiện và chân thực trong cuộc sống của bản thân mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đó là cả một quá trình khám phá, học theo, sáng tạo và thể hiện nét đẹp văn hóa, biết cách chia sẻ vẻ đẹp đó cho cộng đồng.

  • TDTT là bộ phận của nền văn hóa chung: TDTT hay còn gọi là văn hóa thể chất là do nó chứa đựng những thành quả lao động sáng tạo của con người trong suốt quá trình lịch sử và nó phục vụ nhu cầu của cuộc sống con người.
  • Giá trị vật chất của TDTT là các công trình, trang thiết bị dụng cụ dùng vào cho việc tập luyện, vấn đề tài chính và trình độ hoàn thiện thể chất của con người bao gồm cả các thành tích thể thao của họ. Các công trình thể thao như sân vận động, nhà thi đấu,…. được coi là vật chất cứng (loại vật chất ít thay đổi; Các nhà tài trợ của các đội bóng hay các giải thi đấu, huy chương vàng bạc đồng,…. được coi là loại vật chất mềm (loại vật chất thay đổi liên tục). Sân Vận động Tổ chim của Olympic 2008 – Bắc kinh – Trung Quốc.

cũng có thể thấy được trình độ khoa học của quốc gia đăng cai, tiềm lực kinh tế của quốc gia đó và vận động viên hay khán giả cũng được xem những màn trình diễn pháo hoa đẹp mà trong đời họ khó có thề nhìn thấy. Hoặc việc cá nhân vận động viên đạt được huy chương cũng làm cho tinh thần của họ phấn chấn, những người xung quanh họ thơm lây và cao hơn nữa là dân tộc họ tự hào….ví như vô địch bóng đá thế giới của đội nữ Nhật Bản không chỉ là dân Nhật bản mà cả châu Á cũng thấy tự hào….Hay như mới gần đây nhất, trong trận đấu vòng loại U23 châu Á, với chiến thắng 1-0 trước đội tuyển Autraslia, huấn luyện viên người Hàn Quốc chắc chắn đã giải tỏa được một phần nào đó cơn khát chiến thắng của người hâm mộ bóng đá Việt Nam. (Màn bắn pháo hoa tại Athens 2004)

( Màn bắn pháo hoa tại London 2012)

  • Giá trị của TDTT đối với cá nhân con người:
  • TDTT mang lại vẻ đẹp hình thể cho con người, đây là một nhu cầu không của riêng ai (một tiêu chí quan trọng trong các cuộc thi sắc đẹp), từ đó giúp con người sống tự tin, lạc quan và yêu đời hơn.
  • TDTT giúp con người hoàn thiện nhanh, nâng cao về thể chất, có thể làm được những việc mà nếu không tập luyện thì con người không thể làm được, giúp con người khám phá được các năng lực mới của bản thân như: những kỉ lục thể thao, chinh phục đỉnh cao các ngọn núi, khám phá vùng bắc cực, du hành vũ trụ…..

Như thông qua các màn biểu diễn khai mạc tái hiện lại lịch sử của đất nước đăng cai đại hội Olympic mà chúng ta biết được lịch sử phát triển của đất nước đó. Những công trình TDTT là những công trình kiến trúc tiêu biểu có giá trị lịch sử, văn hóa xã hội và tính thời đại to lớn; từ những sân vận động cổ đại đến những đấu trường to lớn ở La Mã…..hay gần đây là sân vận động Tổ chim của Thế vận hội Olympic Bắc Kinh năm 2008 được coi như là biểu tượng của mối quan hệ thân thiện vốn có giữa con người với giới tự nhiên, nó là thông điệp có tính thời sự và xã hội to lớn về trách nhiệm của con người với trái đất, ngôi nhà chung của nhân loại. Hay khu tác nghiệp báo chí của đại hội Olympic lần thứ 30 của London sau khi đại hội kết thúc sẽ được đưa và sử dụng làm khu tổ hợp văn phòng và nhà ở. + TDTT làm phong phú đời sống văn hóa xã hội, lôi cuốn con người vào những hoạt động giải trí lành mạnh, góp phần đẩy lùi những tệ nạn xã hội. I.1.2: TDTT là hoạt động xã hội đặc biệt Một hoạt động xã hội là hoạt động phải phát sinh từ cuộc sống con người, phục vụ con người. Nó tồn tại và phát triển cùng sự phát triển của xã hội loài người. TDTT là hoạt động không tự nhiên sinh ra, không tự ai nghĩ ra. TDTT ra đời từ cuộc sống lao động, sản xuất và chiến đấu của con người Lịch sử đã chứng minh, lao động chính yếu tố quyết định hình thành và phát triển của xã hội loài người, quá trình lao động là quá trình đấu tranh sinh tồn giữa con người với giới tự nhiên. Để tồn tại và phát triển, con người buộc phải hiểu biết và thích nghi với điều kiện môi trường sống. Kiếm ăn dưới mặt đất là hình thức lao động thô sơ nhất của con người, sau đó nguồn thức ăn đó cạn dần đã buộc con người phải sử dụng những hình thức lao động đòi hỏi sức khỏe tốt hơn như: chạy, nhảy…., những kỹ năng khó như: leo trèo…. Và họ phải sử dụng những công cụ lao động, do đó, bộ não con người ngày càng phát triển, họ bắt đầu ý thức được mối quan hệ giữa chuẩn bị lao động với hiệu quả lao động; đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy trừu tượng của con người. Họ bắt đầu tái hiện lại những hoạt động trong lao động như: chạy, nhảy, ném…..và làm lại những hoạt động đó nhiều lần, việc lặp đi lặp lại nhiều lần động tác như thế chính là khởi đầu của việc tập luyện. Quá trình tập luyện và truyền thụ những kinh nghiệm đã có đó cho người khác chính là hình thức dạy học sơ khai đầu tiên. Quá trình dạy và học các kỹ năng, rèn luyện thể chất khởi đầu từ đây (người cha hướng dẫn con trai cách phóng lao diệt trừ thú dữ, người mẹ hưỡng dẫn con gái cách gieo trồng hái lượm sao cho nhanh

cho khéo…). Vì vậy, chúng ta khẳng định: trong lịch sử của hoạt động dạy học thì dạy về phát triển thể chất cho con người là hoạt động đầu tiên. Các hoạt động tập luyện cũng đa dạng và sát với điền kiện thực tế của cuộc sống hơn như: chạy, nhảy, ném đẩy, vượt chướng ngại vật,…đã đưa con người phát triển lên tầm cao mới của cuộc sống. Không những thế, con người còn biết đưa các hoạt động tập luyện thành những trò chơi sau giờ lao động, cùng nhau thi thố chọn ra những người khỏe hơn, nhanh hơn, khéo hơn. Đã có thời gian dài trong lịch sử, con người chọn người chỉ huy, lãnh đạo bằng các cuộc thi đấu võ nghệ và hình thái thể thao xuất hiện bắt đầu từ đây. Khi xã hội phát triển, TDTT không mất đi mà nó phát triển càng cao hơn, gần gũi với cuộc sống con người hơn, phục vụ con người hiệu quả hơn, phạm vi hoạt động rộng lớn hơn, ý nghĩa của các cuộc thi đấu thể thao sâu sắc hơn với những ý tưởng tốt đẹp như: trong hiến chương của phong trao Olympic đã nêu: Thể thao trung thực, đoàn kết, hữu nghị….TDTT đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của cuộc sống con người, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

. I.1.3: TDTT là phương tiện hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển thể chất và nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội Sự phát triển của cơ thể con người tuân thủ theo quy luật sinh học. Các ngành khoa học như y sinh, giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ…chuyên nghiên cứu về quy luật phát triển tự nhiên này của con người, đã có nhiều thành tựu giúp chúng ta ngày càng hiểu hơn về những bí ẩn trong chính cơ thể mình. TDTT là ngành khoa học tổng hợp các thành tựu của các ngành khoa học như sinh học, tâm lý, giáo dục…nên hiệu quả tác động của nó ngày càng tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới sự phát triển thể chất của con người. TDTT tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…nhằm mục đích củng cố sự ổn định của xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần…do đó, nó góp phần tích cực vào việc xây dựng một xã hội phát triển lành mạnh, văn minh và tiến bộ. TDTT hoạt động với phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, vì vậy nó làm phong phú đời sống sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người phát triển cân đối hợp lý I.2: Thể thao I.2.1: Khái niệm

kết hợp của nhiều yếu tố đồng thời như: thể hình, thể lực, kỹ chiến thuật, phẩm chất tâm lý, công tác huấn luyện, việc tập luyện…theo quy trình hết sức chặt chẽ có kiểm soát cao. Thi đấu thể thao đòi hỏi thể lực tốt, kỹ chiến thuật phức tạp…..do đó để chơi thể thao, con người cần có sự đầu tư nhiều về mặt thể lực, thời gian, tâm lý…. Mục đích chính của thể thao là giành chiến thắng, bên cạnh đó nó còn có những nhiệm vụ khác như: chính trị, vui chơi, giao lưu….Thể thao ngày nay đã trở thành một hoạt động giải trí phổ biến thu hút nhiều người nhất mang lại nhiều lợi ích to lớn cho cá nhân mỗi người và xã hội. Chức năng của thể thao là huấn luyện, giáo dục và giao tiếp. Đặc trưng tiêu biểu của thể thao là hoạt động thi đấu, là sử dụng tốt các phương tiện hiệu quả góp phần hình thành và hoàn thiện năng lực thể chất, tinh thần của con người.

  • Hai hình thức của thể thao là: Thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao ( thể thao nâng cao). Hay còn gọi là thể thao chuyên nghiệp và thể thao nghiệp dư. Thể thao quần chúng: là các bài tập về một số môn thể thao theo hướng tích cực về mở rộng phạm vi số lượng người tập, gồm các bài tập thể chất dưới các hình thức đa dạng: thể dục thể hình, bơi lội, điền kinh, bóng chuyền,…..Mục đích của loại hình thể thao này là: nghỉ ngơi tích cực, loại trừ sự căng thẳng thần kinh (không đè nặng tính hơn thua), củng cố và tăng cường sức khỏe, nâng cao khả năng làm việc của con người trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và đẳng cấp vận động viên. Thể thao thành tích cao là sắp xếp một các hệ thống các bài tập, các chu kì huấn luyện, phương pháp huấn luyện và các cuộc thi đấu nhằm nâng cao thành tích thể thao tối đa, bộc lộ hết tiềm năng cơ thể của con người. I.2.2: Một số vấn đề có liên quan

- Tinh thần thể thao: là tinh thần phấn đấu vì lối chơi đẹp trong cách cư xử cả với đồng đội và đối phương, trong hành vi đạo đức, và thái độ lịch sự cả khi thắng lẫn khi thua. Tinh thần thể thao thể hiện nguyện vọng hay thái độ rằng thể thao nên được thưởng thức vì lợi ích của chính nó. Những câu nói như phát biểu của nhà báo thể thao Grantland Rice rằng "[quan trọng] không phải là việc thắng thua mà là cách bạn thi đấu", và phương châm của cha đẻ phong trào Olympic Pierre de Coubertin: "Điều quan trọng nhất... không phải là chiến thắng mà là việc được tham gia", là những ví dụ tiêu biểu của quan niệm

này.

- Gian lận: Các nguyên tắc cơ bản của thể thao bao gồm cả việc các kết quả không được xác định trước, và các bên tham gia phải có cơ hội chiến thắng như nhau. Luật lệ được đề ra để đảm bảo công bằng mặc dù nhiều lúc người tham gia có thể phá luật để giành ưu thế. Người tham gia có thể gian lận để thỏa mãn mong muốn chiến thắng, hoặc vì một động cơ nào đó. Sự xuất hiện của cá cược các kết quả thể thao là động cơ của tình trạng dàn xếp tỉ số khi một hay nhiều người tham gia cố tình thi đấu để đạt được một tỉ số đã định sẵn. - Doping: Tính cạnh tranh đôi khi khiến các vận động viên có ý định tăng cường thành tích thông qua việc sử dụng thuốc men hay các phương thức khác như tăng lượng máu trong cơ thể thông phương thức nhân tạo. Tất cả các môn thể thao được IOC hay SportAccord công nhận bắt buộc phải tiến hành một chương trình kiểm tra nhắm phát hiện các vận động viên sử dụng các chất có trong danh mục cấm và có biện pháp xử lý các trường hợp này. - Bạo lực: Bạo lực trong thể thao diễn ra khi người tham gia vượt qua giới hạn ngăn cách giữa chơi đẹp và bạo lực hiếu chiến có chủ đích. Các vận động viên, huấn luyện viên, người hâm mộ đôi khi có những hành vi thái quá nhắm vào người hay đồ vật để bày tỏ một cách sai trái sự trung thành, giận dữ hay ăn mừng. Nạn bạo động hay nạn hooligan do cổ động viên gây ra là vấn đề tại các cuộc thi đấu thể thao ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế. I.3: Thể dục I.3.1: Khái niệm Thể dục là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung. Nó có thể được thực hiện với một vài lý do khác nhau. Những lý do này bao gồm sức mạnh cơ bắp, hệ tim mạch, trau dồi kỹ năng thể thao, giảm và duy trì cân nặng và sở thích. Các bài tập thể dục đều đặn và thường xuyên nâng cao sức miễn dịch cơ thể và

Ví dụ: muốn nhảy được với khoảng cách xa nhất có thể của bản thân, trước hết con người phải tập bật nhảy cao và nhảy xa tại chỗ, rồi chạy nhanh, chạy kết hợp với bật… Nét đặc trưng của giáo dục thể chất là quá trình rèn luyện kỹ năng, hình thành các kỹ xảo vận động và phát triển các các phẩm chất thể lực của con người. Tổ hợp nét đặc trưng đó sẽ quyết đinh năng lực làm việc của con người về mặt thể lực, góp phần tạo nên sự phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần của con người. Về mặt thực dụng giáo dục thể chất là quá trình chuẩn bị thể lực cho con người để thực hiện các nhiệm vụ hoạt động do xã hội quy định như: lao động, chiến đấu, học tập….. Giáo dục thể chất hay thể dục được tiến hành theo nhiều hình thức và thời gian khác nhau như: học trên lớp, tự học, hoạt động câu lạc bộ….. I.4: Phân biệt Thể thao và Thể dục Thể dục và thể thao đều là những hoạt động vận động có cơ chế hoạt động sinh lý, sinh hóa, sinh cơ giống nhau và đều có tác động tốt đến sự phát triển thể chất và nhân cách của người tập. Thể dục và thể thao khác nhau ở tính mục đích: Thể dục được thực hiện với mục đích là nâng cao sức khỏe, rèn luyện những thói quen tốt cho người tập. Còn Thể thao được tập luyện với mục đích giành chiến thắng. Chính vì thế mà hoạt động thể thao diễn ra với tính chất mạnh mẽ hơn, gay gắt hơn (công tác tuyển chọn, huấn luyện kỹ chiến thuật, trạng thái tâm lý, tổ chức và đòi hỏi thi đấu cao). Với mục đích giành chiến thắng, thể thao đôi khi phát sinh ra các mặt trái và tiêu cực trong thi đấu như: các hành vi quá khích của vận động viên và khán giả, sử dụng doping, hối lộ, mua bán thành tích,...đây là các mặt trái mà thể dục không có. Giữa thể thao và giáo dục thể chất có mối quan hệ chặt chẽ, thể thao không những đưa đến hiệu quả về giáo dục thể chất mà còn là hiện tượng xã hội đa dạng có ý nghĩa độc lập về tính văn hóa chung, tính sư phạm, thẩm mỹ. Tuy nhiên trong thể thao có một số môn không phải là phương tiện hoặc chỉ có quan hệ gián tiếp đến giáo dục thể chất như: thả diều, mô hình máy bay….. Giáo dục thể chất thì cũng không bị hạn chế bởi thể thao mà nó còn là quá trình chuẩn bị thể lực. Trong giáo dục thể chất bên cạnh việc huấn luyện thể lực chung rộng rãi thì huấn luyện chuẩn bị thể lực nghề nghiệp cũng là mặt không thể thiếu.

I.5: Giáo dục các tố chất vận động Bao gồm giáo dục tố chất thể lực và giáo dục tâm vận động. Trong đó giáo dục tâm vận động được xem xét dưới góc độ điều khiển tâm sinh lý và giáo dục các tố chất thể lực được xem xét với góc độ sinh cơ học, điều khiển học của hệ thần kinh trung ương. Trong cuộc sống, chúng ta khá quen thuộc với cụm từ có liên quan đến “tố chất” như: tố chất kinh doanh, tố chất lãnh đạo…. Bên cạnh các yếu tố về kiến thức, đạo đức, ý chí, ….thì thể lực là một trong những nhân tố quan trong quyết định đến hiệu quả hoạt động của con người, trong đó có yếu tố tiên quyết là TDTT. Vậy tố chất thể lực là gì? Tố chất thể lực được phân tích làm hai từ: Tố chất và thể lực. Tố chất là một danh từ nói đến những cái riêng, cái có sẵn thuộc về bẩm sinh. Thể lực là sức lực của cơ thể con người. Tố chất thể lực là những năng lực thể chất của con người. Nó gồm 5 tố chất: Nhanh, mạnh, bền, khéo léo và mềm dẻo. I.5.1: Sức nhanh: là một tố chất thể lực, đó là năng lực thực hiện một hành động vận động trong điều kiện cho trước với một thời gian ngắn nhất.

  • Sức nhanh phụ thuộc vào các yếu tố sau:
  • Sự phối hợp của hệ thống thần kinh cơ.
  • Tính linh hoạt của các quá trình thần kinh.
  • Sức mạnh nhanh.
  • Khả năng đàn tính của cơ bắp.
  • Khả năng huy động các nguồn năng lượng phù hợp.
  • Các phẩm chất tâm lí.
  • Sức nhanh được biểu hiện dưới dạng: Sức nhanh động tác, khả năng tăng tốc độ và khả năng đạt được tốc độ tối đa. Ví dụ: Sức nhanh động tác rất cần thiết cho môn ném đẩy, môn nhảy hay thi đấu đối kháng.
  • Phương pháp rèn luyện sức nhanh:
  • Rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản: tập lặp lại phản ứng với các
  • Các phẩm chất tâm lý: ý chí, tinh thần…
  • Khả năng điều chỉnh và tự điều chỉnh của hệ thống thần kinh.
  • Trình độ kỹ thuật thể thao.
  • Sức bền là cơ sở để người tập duy trì sự ổn định để đạt thành tích cao. Nó thể hiện ở các mặt sau:
  • Cơ sở duy trì tần số và biên độ động tác trong thời gian dài ở các môn thể thao có tính chu kì như: Chạy, bơi…
  • Một trong những tiềm năng tạo điều kiện để người tập có thể thực hiện các động tác liên hợp, có độ khó cao trong các môn thể thao mang tính nghệ thuật như: thể dục nghệ thuật….
  • Tạo điều kiện nâng cao hiệu quả của động tác trong các môn thể thao như: các môn bóng, các môn thể thao mang tính đối kháng…. Năng lực làm việc của hệ tim mạch, quá trình trao đổi chất, khả năng tiết kiệm năng lượng và các phẩm chất tâm lý chuyên môn là tiền đề quan trọng tạo nên sức bền.
  • Sức bền được chia làm 2 loại:
  • Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động tương đối cao trong những loại hình bài tập nhất định.
  • Sức bền chung: là loại sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường độ thấp và sự tham gia của phần lớn hệ cơ.
  • Phương pháp rèn luyện:
  • Nâng dần thời gian thực hiện bài tập.
  • Có cường độ vừa phải.
  • Tập trong điều kiện tự nhiên, ở những nơi giàu oxy. I.5.4: Khéo léo: là tố chất thể lực, là năng lực phối hợp vận động và khả năng hình thành những động tác mới trong điều kiện môi trường thay đổi. Khéo léo có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lực thể hiện các tố chất vận động. Đánh giá năng lực phối hợp vận động dựa vào mức độ tiếp thu nhanh hoặc chậm kỹ thuật động tác; dựa vào khả năng củng cố vận dụng các kỹ năng, kỹ xảo và kỹ thuật đã

học. Năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo vận động có sự khác biệt. Kỹ xảo nói về năng lực vận động ở một bài tập nhất định, là nói lên tiền đề để thực hiện nhiều hoạt động vận động khác nhau. Có nhiều kỹ xảo vận động để tạo nhiều tiền đề cho năng lực phối hợp vận động phát triển. Do đó, kỹ xảo và năng lực phối hợp vận động tuy 2 mà 1 và tuy 1 mà 2. I.5.5: Mềm dẻo: là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn. Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo và đơn vị đo cụ thể là góc độ hoặc độ dài của biên độ động tác.

  • Mềm dẻo phụ thuộc vào năm yếu tố:
  • Tính đàn hồi của cơ bắp và dây chằng.
  • Cấu trúc giải phấu.
  • Quá trình hưng phấn.
  • Năng lực sức mạnh, thời gian và điều kiện hoạt động.
  • Mềm dẻo bao gồm:
  • Mềm dẻo tích cực: Là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ sự nỗ lực cơ bắp
  • Mềm dẻo thụ động: Là năng lực thực hiện động tác với biên độ các khớp nhờ tác động của ngoại lực như: lực ấn , lực đè, trọng lượng của người tập…..
  • Phương pháp rèn luyện: là kéo giãn cơ bắp và dây chằng. I.5.6: Mối tương quan giữa các tố chất thể lực Các tố chất thể lực có liên quan mật thiết với nhau. Khi tập một tố chất thể lực này thì đồng thời cũng có phụ thuộc và ảnh hưởng đến sự phát triển của các tố chất khác. Ví dụ: Sức bền phát triển kéo theo sức mạnh phát triển tạo điều kiện cho sức nhanh phát triển→ sự di chuyển dương tính Tập sức bền trong thời gian lâu và dài thì sức nhanh bị trì trệ và tạo sức ỳ→ sự di chuyển âm tính. Sự di chuyển dương tính là sự phát triển một tố chất này có tác dụng nâng cao tố